CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm và thực trạng về bệnh tâm thần phân liệt 1. Một số khái niệm và bệnh học về bệnh tâm thần phân liệt TTPL – Schizophrenia đề cập đến các hoạt động tâm thần bị chia cắt, mất các mối ảnh hưởng giữa các mặt hoạt động tâm thần. Đâylà một bệnh tâm thần nặng với các triệu chứng lâm sàng rất đa dạng.
Tổn thương của bệnh thể hiện ở các rối loạn về nhận thức, tư duy, tri giác, cảm xúc, hành vi,…của người bệnh. Các triệu chứng của bệnh có thể không giống nhau ở các người bệnh và có thể thay đổi theo thời gian, nhưng tác động rất nghiêm trọng và kéo dài. [29] Các thể của TTPL - Thể paranoid: Bệnh nhân mang thể bệnh này thường có đặc điểm là các hoang tưởng hoặc các ảo thanh rõ ràng trong phạm vi liên quan tới chức năng nhận thức và cảm xúc. Hiện nay có hơn 50% tổng số bệnh nhân TTPL mang thể bệnh này.
Thể bệnh này có khởi phát muộn hơn các thể bệnh TTPL khác nhưng nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rặng người bệnh mắc thể bệnh này có thể có khả năng phục hồi tốt hơn đặc biệt ở chức năng xã hội và khả năng có một cuộc sống độc lập - Thể thanh xuân: Là một thể bệnh có tiên lượng rất xấu do sự khởi phát sớm và tiến triển không ngừng kể cả ở bệnh nhân có điều trị. Thể bệnh thường này thường thể hiện qua ngôn ngữ, hành vi, không có cảm xúc hoặc cảm xúc không phù hợp - Thể căng trương lực: Người mang thể bệnh này thường có những triệu chứng như bất động, kích động, vận động cường độ lớn kỳ dị,, hay nhại lại lời và nhại vận động. Người bệnh có thể tránh được thể bệnh này nếu được phát hiện sớm và điều trị 5 - Thể không biệt định: Là thể bệnh mang các triệu chứng của bệnh TTPL nhưng lại không mang các triệu chứng của thể paranoid, thể thanh xuân và thể căng trương lực Thể di chứng: Là thể bệnh được phát triển từ các thể bệnh khác sau nhiều năm bị bệnh của bệnh nhân. Thể bệnh này không có triệu chứng loạn thần rõ ràng nhưng triệu chứng âm tính như vô cảm xuscn ngôn ngữ nghèo nàn và mất ý chí lại vô cùng nổi bật ở thể bệnh này.[2] Điều trị TTPL Để điều trị TTPL có hai bước tiến hành bao gồm: điều trị tấn công và điều trị củng cố.
Tùy vào thể tâm thần và biểu hiện của người bệnh, sẽ có những phác đồ khác nhau trong quá trình điều trị. Phổ biến nhất là sử dụng thuốc an thần có hiệu quả cao cho các triệu chứng loạn thần và dương tính như hoang tưởng, ảo giác, căng trương lực, chống loạn thần, giảm lo âu, gây ngủ. Tuy nhiên việc sử dụng thuốc an thần có thể khiến người bệnh gặp nhiều biến chứng. hiện tại thuốc vẫn là công cụ chủ yếu điều trị các triệu chứng của bệnh TTPL.
Các liệu pháp tái thích ứng xã hội và lao động liệu pháp là phương pháp phục hồi chức năng tâm lý xã hội cho bệnh nhân TTPL [29]. Liệu pháp sốc điện cùng biện pháp điều trị tấn công thường được chỉ định cho những bệnh nhân sử dụng thuốc một thời gian dài mà không đem lại hiệu quả và có hành vi tự sát, không ăn uống, kích động dữ dội, hoang tưởng, ảo giác,… Sau khi điều trị tấn công, nếu không điều trị củng cố, đa số người bệnh sẽ tái phát sau một năm. Bệnh nhân nên sử dụng thuốc an thần bằng đường uống để giảm thiểu tỷ lệ tái phát bệnh, liều thuốc trong điều trị củng cố cần bằng 1/2-2/3 giai đoạn tấn công. Vì thế việc TTĐT cho người bệnh trong cộng đồng là điều vô cùng cần thiết.
Điều trị dựa vào cộng đồng tập trung vào đào tạo các kỹ năng nhận thức, xã hội, lao động. Hiện nay, điều trị dựa vào cộng đồng được coi là bước đột phá mới trong việc điều trị bệnh TTPL, giúp làm giảm đáng kể các triệu chứng 6 tiêu cực của bệnh TTPL và cải thiện chức năng tuần hoàn não đồng thời cải thiện việc TTĐT.Việc điều trị này cũng góp phần làm tăng sự quan tâm của gia đình, xã hội với người bệnh nhằm cải thiện năng suất hoạt động xã hội và tình trạng việc làm [19]. Thuốc điều trị TTPL [7] Hiện tại, trên địa bàn huyện Vĩnh Tường, Aminazine, Haloperidol và Levomepromazine là 3 loại thuốc an thần thiết yếu được chỉ định dùng điều trị bệnh TTPL.1: Tác dụng và chỉ định dùng thuốc tại cộng đồng của một số loại thuốc điều trị TTPT trên địa bàn huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc Chỉ định dùng ở cộng Tên thuốc Tác dụng đồng Dùng điều trị tất cả các thể TTPL; giai Dùng khoảng 25mg đoạn hưng cảm của rối loạn lưỡng cực; an đến 150mg/ngày, uống Aminazine thần trước phẫu thuật. từ 2 đến 3 lần/ngày (trung bình 50 - 70mg/ngày) Dùng điều trị bệnh loạn thần cấp kèm hưng Chia làm 2 – 4 lần phấn tâm thần vận động và lo âu trầm uống 1 ngày, uống liều Levomepro trọng (cơn TTPL cấp, tình trạng loạn tâm tăng dần từ 1 đến 2 mazine thần cấp tính khác); hỗ trợ điều trị loạn viên/ngày tới từ 6 đến tâm thần mạn tính (TTPL mạn tính, loạn 8 viên/ngày (uống đến tâm thần mạn tính có tính chất ảo giác).
liều có tác dụng) 7 Chỉ định dùng ở cộng Tên thuốc Tác dụng đồng Dùng điều trị các rối loạn tâm thần nhất Sử dụng từ 1 đến 2 định như TTPL, rối loạn tâm thần; giảm mg/ngày, uống từ 3 căng thẳng, suy nghĩ tiêu cực, ảo giác và đến 4 lần/ngày, uống ngăn ngừa tự sát; giảm sự xâm phạm và có đều dặn mỗi ngày Haloperidol xu hướng muốn làm tổn thương người khác; giúp cải thiện sự cân bằng của một số chất dẫ truyền thần kinh tự nhiên trong não 1. Thang đo tuân thủ điều trị về bệnh tâm thần phân liệt Tuân thủ điều trị Theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới (WHO), TTĐT là hành vi của người bệnh trong việc thực hiện hướng dẫn điều trị như của thầy thuốc, ăn kiêng, thay đổi lối sống. [58] Phương pháp đánh giá tuân thủ điều trị Việc đánh giá tuân thủ được đánh giá dựa vào định nghĩa sự TTĐT và thang đo TTĐT thuốc Morisky 8 mục (MMAS-8) trong điều trị TTPL tại cộng đồng là một phương pháp thu thập thông tin về hành vi dùng thuốc đã được sử dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia và nhiều nền văn hóa khác nhau. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng thang đo MMAS-8 là đáng tin cậy và hợp lệ ở người bệnh tăng huyết áp, hen suyễn, tâm thần… với độ nhạy (0,81) và độ tin cậy cao (Cronbach α = 0,61) [28], [49].
Thang đo được phát triển từ thang đo 4 mục đã xây dựng trước đó và bổ sung các mục để xung quanh hành vi tuân thủ: quên uống thuốc, uống thiếu thuốc, ngừng thuốc khi cảm thấy tốt hơn, ngừng thuốc khi cảm thấy xấu đi, nếu có một trong 4 hành vi trên đều được đánh giá là không tuân thủ. Biện pháp này được 8 thiết kế để tạo điều kiện xác định các rào cản trong hành vi tuân thủ thuốc mãn tính. Thang đo có thể cung cấp các thông tin về hành vi sử dụng thuốc có thể là vô ý hoặc cố ý để đánh giá hành vi tuân thủ của người bệnh [48], [49]. Cụ thể với từng tiêu chuẩn đánh giá mức độ tuân thủ điều trị của người bệnh sử dụng mô hình đánh giá sử dụng thang đo TTĐT thuốc Morisky 8 (MMAS-8) mục bao gồm 07 tiêu chí hành vi: “quên uống thuốc, quên thuốc trong 2 tuần, ngừng thuốc khi bệnh nặng, quên không mang thuốc, uống thuốc hôm qua, ngừng thuốc khi bệnh tốt hơn, bất tiện khi uống thuốc”.
Mỗi đáp án lựa chọn câu trả lời “không” được đánh giá là 1 điểm và câu trả lời “có” tính là 0 điểm ngoại trừ biến “uống thuốc hôm qua” trả lời là “có” được tính 1 điểm, trả lời “không” không có điểm; Và 01 tiêu chí về nhớ lại “rắc rối khi nhớ tất cả các loại thuốc”, mã câu trả lời được đánh giá trị từ 1 đến 5, số điểm được tính giảm dần từ 1 xuống 0 theo 5 mã giá trị, chọn 1 được 1 điểm, chọn 2 được 0,75 điểm…chọn 5 được 0 điểm. Tổng điểm của 8 câu hỏi đánh giá từ 0-8, đạt từ 5-8 điểm được đánh giá là tuân thủ, dưới 5 điểm phản ánh là không tuân thủ. Mô hình điều trị tâm thần phân liệt tại cộng đồng Sau 8 năm (từ 1952 đến 1960) kể từ sự thành công của đời thuốc chống loạn thần đầu tiên - chlorpromazine (1952) đã có những thay đổi mạnh mẽ trong mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần trên toàn thế giới: Hỗ trợ bệnh nhân TTPL bằng cách điều trị cho bệnh nhân tại các bệnh viện tâm thần nhỏ, các khoa tâm thần nội trú trong các bệnh viện đa khoa và các phòng khám thay vì bắt bệnh nhân điều trị tại các bệnh viện lớn, nhằm tạo điều kiện cho bệnh nhân TTPL đến phòng khám bệnh đều dặn mỗi tháng, những bệnh nhân có các triệu chứng nguy hiểm như quá kích động, có xu hướng gây hai cho bản thân và người khác,… sẽ được cấp chỉ định nhập viện và điều trị nội trú đến khi ổn định, bệnh nhân không có các biểu hiện nguy hiểm sẽ được điều trị ngoại trú. [1] 9 Những nước có nền kinh tế phát triểm như Mỹ và Pháp đều xây dựng hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần cho người dân dựa trên vị trí địa lý.
Họ xây dựng những bệnh viện nội trú, phòng khám ngoại trú và bệnh viện ban ngày và xưởng dạy nghề,. tại các khu vực có khả năng tiếp cận từ 70. Cho đến giờ mô hình này đã đen lại rất nhiều hiệu quả cũng như chứng tỏ được tính nhân đạo, tính dễ tiếp cận đến mọi người. [42] Ngoài ra, điều trị cộng đồng kiên quyết (ATC) là dịch vụ có cường độ cao nhất trong các dịch vụ điều trị tại cộng đồng đã được áp dụng tại nhiều quốc gia và đạt kết quả tích cực.
Đây là một chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần toàn diện, tập trung vào khách hàng, cung cấp tất cả các dịch vụ ngoại trú, phục hồi chức năng và hỗ trợ người bệnh tâm thần nặng và có những vấn đề tâm lý xã hội nghiêm trọng kéo dài trọn đời. Những người bệnh khi tham gia chương trình sau một thời gian hầu hết chuyển đổi thành công sang mức độ dịch vụ ít chuyên sâu hơn sau thời gian theo dõi trung bình là 40 tháng và chỉ có 6% tái phát.