Chương 1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA PHAN BỘI CHÂU 1. ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA PHAN BỘI CHÂU 1. Điều kiện lịch sử – xã hội thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với sự hình thành tư tưởng yêu nước của Phan Bội Châu Theo quan điểm của Triết học Mác – Lênin, tồn tại xã hội và ý thức xã hội có mối quan hệ tác động biện chứng, trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội. Ngược lại, ý thức xã hội cũng có tính độc lập tương đối với tồn tại xã hội và tác động trở lại đối với tồn tại xã hội.
Là một trong những hình thái ý thức xã hội, tư tưởng triết học luôn phản ánh và chịu sự quy định của tồn tại xã hội. Đúng như nhận định của C.Ăngghen: “Chính con người, khi phát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình, đã làm biến đổi, cùng với hiện thực đó của mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình. Không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức” [66, tr. Quan điểm này đã trở thành quy luật tất yếu và quá trình hình thành, phát triển tư tưởng yêu nước của Phan Bội Châu không thể nằm ngoài quy luật đó.
Bởi lẽ, tư tưởng yêu nước của ông không phải được hình thành một cách ngẫu nhiên, mà xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn xã hội trên thế giới và ở Việt Nam hồi cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đồng thời, tư tưởng yêu nước đó cũng không phải được hình thành một cách tự phát, mà nó được thấm nhuần, hun đúc và phát triển từ truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam, một truyền thống đã trở thành “sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại” [40, tr. Chính vì vậy, nghiên cứu tư tưởng yêu nước của Phan Bội Châu, chúng ta không thể không tìm hiểu một cách toàn diện về hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cũng như những tiền đề lý luận hình thành nên tư tưởng yêu nước của ông. 13 Một trong những điều kiện, nhân tố đầu tiên tác động, chi phối đến quá trình hình thành và phát triển tư tưởng yêu nước của Phan Bội Châu chính là điều kiện lịch sử – xã hội thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Trong đó, tiêu biểu nhất là sự thống trị và bóc lột của chủ nghĩa tư bản đối với nhân dân lao khổ các nước chính quốc và sự xâm lược, nô dịch, áp bức đối với nhân dân các nước thuộc địa trên thế giới. Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, với thành tựu của khoa học kỹ thuật, lịch sử sản xuất của xã hội có những bước chuyển biến quan trọng, đó là sự phát triển vượt bậc của sức sản xuất, cơ cấu giai cấp – xã hội thay đổi, chủ nghĩa tư bản đã chuyển từ giai đoạn tự do sang giai đoạn đế quốc. Chính sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã tạo nên sự biến đổi một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và khoa học. Sự biến đổi này như một phản ứng dây chuyền, tác động mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Về kinh tế, bằng việc ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra lực lượng sản xuất lớn, làm thay đổi diện mạo đời sống xã hội. Giai cấp tư sản giữ vai trò tiên phong mở đường trong việc áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất, nhằm thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển. Vai trò mang tính cách mạng này được C.Ăngghen đánh giá cao: “Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại” [68, tr. Với sự phát triển nhanh chóng của sản xuất công nghiệp đã làm thay đổi vai trò và tỷ trọng sản phẩm của mỗi nước, dẫn đến sự phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản: Anh mất dần địa vị độc quyền về công nghiệp; những đế quốc trẻ như Mỹ, Đức vươn lên hàng thứ nhất và hai; tốc độ phát triển công nghiệp của Nga và Nhật ở mức tương đối và chưa toàn diện.
Sự không tương xứng về khả năng cũng như địa vị của mỗi nước trong công nghiệp và thương nghiệp trở thành nguồn gốc của sự tranh chấp quốc tế về thị trường và thuộc địa. 14 Tình trạng không cân đối giữa các ngành sản xuất, giữa khả năng cung cấp và tiêu thụ cũng như hiện tượng sản xuất vô chính phủ càng đào sâu mâu thuẫn cơ bản của kinh tế tư bản chủ nghĩa, dẫn tới những cuộc khủng hoảng liên tiếp và xu hướng chủ nghĩa tư bản lũng đoạn với việc xác lập quyền thống trị của các tổ chức lũng đoạn ở các nước tư bản chủ nghĩa. Điều đặc biệt quan trọng của thời kỳ lũng đoạn là xuất khẩu tư bản, dẫn đến sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các nước tư bản “già” (Anh, Pháp) và tư bản “trẻ” về thị trường thuộc địa. Chính sự thống trị của các tổ chức lũng đoạn đã thúc đẩy công cuộc xâm chiếm thuộc địa và tới giai đoạn này (đầu thế kỷ XX), chiếm thuộc địa có nghĩa là độc chiếm nguồn cung cấp nguyên liệu và nhân công rẻ, độc chiếm thị trường đầu tư và tiêu thụ hàng hóa, xây dựng cơ sở vững chắc trong cuộc tranh chấp với đối thủ khác.
Đồng thời nó còn mang ý nghĩa chiến lược về mặt quân sự và nguồn cung cấp bia đỡ đạn trong những cuộc chiến tranh ăn cướp. Các nước đế quốc “già” không chỉ muốn duy trì thuộc địa cũ mà còn muốn mở rộng thêm đất đai, các đế quốc “trẻ” thì đòi hỏi “một chỗ đứng dưới ánh mặt trời”, lăm le giành giật thuộc địa của kẻ khác. Nhất là đến đầu thế kỷ XX, việc phân chia thế giới hầu như đã hoàn thành thì các lãnh thổ chỉ có thể đem chia lại mà thôi. Và châm ngòi cho cuộc tranh giành đó là cuộc khủng hoảng kinh tế 1900 – 1903, đưa nhân loại bước vào cuộc đại chiến thứ nhất (1914 – 1918).Lênin, đây là cuộc chiến tranh mang tính chất đế quốc chủ nghĩa nhằm mục đích cướp bóc các nước khác, bóp nghẹt các dân tộc nhược tiểu, thống trị thế giới về mặt tài chính, chia và chia lại thuộc địa, phương Đông lúc này trở thành miếng mồi béo bở mà các nước đế quốc đang thèm muốn, nhất là thực dân Pháp.
Do thất bại trong cuộc chiến tranh 1870 – 1871, Pháp phải bồi thường cho Đức 5 tỷ phrăng và cắt nhường hai tỉnh Andat và Lôren – hai vùng giàu nguyên liệu và có nền công nghiệp phát triển. Điều đó dẫn đến thị trường nội địa trở nên hạn hẹp, nguyên liệu nghèo nàn, Pháp buộc phải nhập cảng than, sắt… nên giảm mạnh sức cạnh tranh với các nước tư bản khác. Chính vì vậy, chiếm vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại của Pháp 15 là những cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa được tiến hành ráo riết ở châu Á và châu Phi. Việc áp dụng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm cho đời sống kinh tế, xã hội, chính trị… ở các nước thuộc địa biến đổi sâu sắc và toàn diện trong đó có Việt Nam, Phan Bội Châu viết: “Cách không bao lâu, bỗng dưng có những tiếng súng nổ ở Lữ Thuận Liêu Đông, lướt theo sóng gió vang dội tới đây làm cho rung động chói chát lỗ tai anh em chúng tôi” [17, tr.
Phan Bội Châu từng ví, nó như một yếu tố bên ngoài làm cho “đầu óc mắt tai mình mới là bắt đầu biến đổi” và “làm vang bóng cho tâm não” [17, tr. Về chính trị, cùng với sự phát triển kinh tế, giai cấp tư sản đã dần dần lớn mạnh, thực hiện cách mạng xã hội lật đổ chế độ phong kiến, thiết lập chế độ tư bản chủ nghĩa và xây dựng nền dân chủ tư sản. Tạo nên bước chuyển mạnh mẽ từ chế độ quân chủ sang dân chủ; từ quân quyền, thần quyền sang pháp quyền; từ niềm tin tôn giáo sang thực nghiệm khoa học… ở các quốc gia phong kiến. Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã tạo ra sự phát triển nhanh chóng của giai cấp công nhân, nhất là ở các nước Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nga với số lượng công nhân tăng lên đến hàng triệu người, trở thành lực lượng xã hội vô cùng quan trọng và đại diện cho lực lượng sản xuất mới.
Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn cơ bản nhất là giữa tư sản và vô sản, sự thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản đã tạo nên phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản. Ở Pháp, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản được Ph.Ăngghen nhận định trong Lời nói đầu, Ngày 18 tháng sương mù của Lui Bônapacơ: “Nước Pháp hơn nước nào khác, nơi mà những cuộc đấu tranh giai cấp trong lịch sử bao giờ cũng được đẩy tới mức kết thúc có tính quyết định… là nơi các hình thức chính trị luôn biến đổi, - trong đó cuộc đấu tranh giai cấp ấy vận động và trong đó biểu hiện kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp ấy, - đã mang những hình thù rõ rệt nhất. Là trung tâm của chế độ phong kiến thời trung cổ, là xứ sở kiểu mẫu của nền quân chủ thống nhất có tính chất đẳng cấp từ thời Phục hưng… trong cuộc đại cách mạng, nước Pháp đã đập tan chế độ phong kiến và thiết lập một nền thống trị thuần túy của giai cấp tư sản với một sự rõ ràng cổ điển mà không 16 một nước nào khác ở châu Âu đạt được. Và cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đã đứng lên chống giai cấp tư sản thống trị ở đây cũng mang một hình thức gay gắt chưa từng thấy ở một nước nào khác” [69, tr.
Sau thất bại của Công xã Pari (1871), phong trào công nhân tiếp tục được củng cố, bắt đầu bước vào thời kỳ tập hợp lực lượng, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh mới mà mục tiêu là chống chủ nghĩa tư bản. Dưới sự phát triển ngày càng sâu rộng của chủ nghĩa Mác, phong trào công nhân ngày càng phát triển mạnh, nhiều tổ chức đảng vô sản, đảng xã hội theo hướng tiến bộ cách mạng của giai cấp công nhân xuất hiện tại Đức, Pháp, Anh, Mỹ.