Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN SINH 1.1 Sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh Chủ nghĩa hiện sinh, với tư cách là trào lưu văn hoá - triết học, xuất hiện đầu tiên ở Đức ngay sau Thế chiến I và làn sóng mới của nó nổi lên ở Pháp sau Thế chiến II. Có thể thấy chủ nghĩa hiện sinh biểu hiện rõ khủng hoảng kinh tế xã hội trong và sau những cuộc chiến - khi mà tâm trạng lo âu, bi quan, nổi loạn bao trùm lên xã hội. Thuật ngữ này được nhìn nhận rộng rãi theo cách mô tả của J.Sartre: tồn tại có trước bản chất. Hãy cứ sống như mình vốn có, Thượng đế đã chết và mọi cái đều được phép.
Tuy nhiên, đó chỉ mới là cái nhìn về chủ nghĩa hiện sinh như một trào lưu văn hoá. Chủ nghĩa hiện sinh còn là một khuynh hướng triết học phương Tây nổi trội của thế kỷ XX. Rõ ràng, đó là sự phản ứng của chủ nghĩa phi duy lý chống chủ nghĩa duy lý. Và ở giác độ này, chủ nghĩa hiện sinh là triết học hiện sinh, là một đóng góp lớn cho sự hình thành bản thể luận phương Tây hiện đại.
Các nhà hiện sinh coi sự lý giải siêu hình học về tồn tại người của triết học truyền thống là thất bại, không đưa đến những kết quả thoả mãn. Tồn tại người cũng không thể dừng lại ở những chân lý mà khoa học, cả khoa học tự nhiên và tâm lý học đem lại. Những phạm trù của đạo đức học cũng không đủ để định nghĩa tồn tại người. Không từ chối hiệu lực nhất định của những phạm trù khoa học được chi phối bởi khuôn mẫu chân lý hay những phạm trù đạo đức bị chi phối bởi khuôn mẫu của lợi ích và quyền lợi, triết học hiện sinh có thể được định nghĩa như học thuyết triết học mà những phạm trù của nó dựa trên tính đích thực của tồn tại người, là sự cần thiết để có thể nắm bắt sự tồn tại của con người.
Họ nhấn mạnh rằng, vấn đề của tồn tại phải là vấn đề tiên quyết z 13 trong triết học. Hiện sinh luôn là duy nhất, cá biệt. Tự do hiện sinh thể không thể công thức hoá. Tồn tại không thể trở thành một đề tài cho khoa học khách quan.
Tồn tại phải được phát giác và cảm nhận bởi chính hiện sinh thể cùng với sự trải nghiệm và hoàn cảnh của chính hắn. Chính vì vậy, tồn tại người phải là vấn đề trung tâm và tiên quyết của triết học. Trong và sau các cuộc chiến tranh thế giới của thế kỷ XX, khi châu Âu tìm thấy mình trong cơn khủng hoảng, đối mặt với cái chết, sự huỷ diệt thì phong trào hiện sinh bắt đầu thịnh hành. Chủ nghĩa hiện sinh như một khuynh hướng triết học cũng như một phong trào văn hoá được phổ biến rộng rãi nhất trong những thập niên 40-50 của thế kỷ XX, là thời điểm mà châu Âu đang chìm trong tâm trạng tuyệt vọng, có thể không phải không có hy vọng về việc tái thiết xã hội nhưng tình trạng bi quan cũng đủ để chấp nhận cái nhìn hiện sinh về sự vô mục đích của thế giới, sự buồn nôn, vô nghĩa của cuộc đời.
Khi xem xét chủ nghĩa hiện sinh với tư cách là triết học hiện sinh, bên cạnh những điều kiện kinh tế, xã hội và chính trị là cái đóng vai trò tiền đề quan trọng cho sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh và cũng đã được đề cập đến trong một số luận văn và luận án viết về triết học hiện sinh (do vậy, chúng tôi không nhắc lại ở đây), chúng ta không thể tách rời bối cảnh văn hoá tinh thần cũng như cội nguồn tư tưởng của nó.1 Bối cảnh văn hoá tinh thần cho sự ra đời triết học hiện sinh Cuối thế kỷ XIX, trong lòng châu Âu bùng nổ cuộc khủng hoảng có cội nguồn từ sức nặng của thứ văn hoá chuyên chế bóp nghẹt nhân cách cá nhân. Soi xét con người cá nhân bằng những giáo lý im lìm của Cơ đốc giáo trong suốt gần hai mươi thế kỷ, những giá trị, chuẩn tắc tuyệt đối đã giam hãm tồn tại người vốn tự do, đột biến và đầy sáng tạo. Tồn tại người rạn nứt, nhiều tầng cảm xúc bị đè nén bừng tỉnh với câu hỏi: hiện sinh của tôi là đích thực hay không đích thực? Và, chính câu hỏi mang ý nghĩa thức tỉnh này đã khởi dấy lên một cách mạnh mẽ những tư tưởng triết học hiện sinh lấy tồn tại người là cứu z 14 cánh của mọi triết lý. Triết thuyết này trở nên có tác động mạnh mẽ tới đời sống xã hội phương Tây lúc bấy giờ.
Sự ra đời của triết học hiện sinh trong dòng chảy của lịch sử triết học là biểu hiện của sự biến văn hoá. Cách tiếp cận nhân học văn hoá trong lĩnh vực tri thức nhân văn buộc chúng ta phải tìm hiểu sâu sắc những tiền đề văn hoá cho sự ra đời chủ nghĩa hiện sinh. Trên cơ sở hiểu rõ những tiền đề văn hoá đó, chúng ta có thể có những góc nhìn, những soi rọi triết học hiện sinh từ góc độ nhân học văn hoá. Bối cảnh văn hoá cho sự ra đời chủ nghĩa hiện sinh có phông nền chính là chủ nghĩa duy lý và cuộc khủng hoảng mà nó đưa đến cho châu Âu.
Văn hoá châu Âu Cận đại khởi từ văn hoá Phục hưng đã đưa con người vào vị trí trung tâm của mọi sáng tạo văn hoá. Đây là thời đại “khám phá ra con người”. Những sự lý giải con người trên chiều cạnh lý tính diễn ra trong triết học Khai sáng, tới Kant và đạt đến đỉnh cao trong thống triết học Hegel. Lý tính trở thành chiều đo tuyệt đối về tồn tại người, tức nhân tính.
Sự tự vận động của lý tính đã kiến tạo nên một hệ thống hoàn hảo điều chỉnh hành vi con người. Những hệ giá trị tuyệt đối được áp dụng trong xã hội một cách triệt để bởi nhà cầm quyền. Không gì dễ dàng hơn là điều khiển đám đông không nhân cách, hay chính là mẫu hình con người đại chúng theo cách gọi của Oterga I Gasset. Con người đại chúng có thái độ thờ ơ với những vấn đề quan trọng, chỉ tiếp nhận những nhận xét, sở thích do người khác đưa ra và được phương tiện truyền thông gán cho chứ không tự mình xây dựng, và, vì vậy, nó là nơi nhận những mỹ từ được nhồi nhét từ kẻ cầm quyền.
Con người đại chúng quen với nếp sống theo những khuôn mẫu phổ biến và sợ hãi sự thay đổi do chính mình tạo ra. Kiểu người này không nhìn thẳng vào cô đơn vì nó không có cá tính mạnh mẽ. Tâm hồn nó là một khối đồng tính. “Người ta gán cho tâm thần tập thể, ý thức xã hội những phẩm chất cao cả nhất, kỳ lạ nhất, đôi khi là thần thánh nhất.
Đối với Durkheim thì xã hội là Chúa chân chính. Theo tín đồ Cơ đốc giáo Bonalld, tín đồ Tin lành giáo Hégel v. thì tâm thần tập thể là cái cao cả, mang tính người lớn hơn nhiều so với con người, là sáng suốt hơn nhiều con người”[25, 133]. Phân z 15 tâm học Freud đã mở ra triển vọng lớn cho việc tìm hiểu tâm lý con người.
Không đi vào lý thuyết của Freud, tôi chỉ muốn nói đến sự quan tâm của ông vào cái Ngã bị đè nén bởi cái Siêu Ngã - các cấm đoán xã hội, các chuẩn tắc văn hoá và tình trạng “không thỏa mãn với văn hoá”. Sự ra đời của phân tâm học cho phép chúng ta tiếp cận tình trạng tồn tại người trong mọi nền văn hoá: bị cưỡng chế. Chính bản thân Freud cũng không ủng hộ việc giải phóng tình cảm, mà coi việc đè nén dục vọng là nguyên tắc của tồn tại; đáp ứng các dục vọng tình dục, hiếu chiến, sự phá hủy hay bản năng chết thì không những đe dọa thứ văn hoá áp đặt mà còn đe doạ cả sự kế tục giống nòi người. Bản thân Freud ở một khía cạnh nhất định chính là sản phẩm của nền văn hoá duy lý.
Cách mạng khoa học kỹ thuật cùng với sự bành trướng của phương tiện truyền thông khiến cho cuộc sống con người trở nên phức tạp và nguy hiểm hơn. Triết học hiện sinh hoàn toàn không phủ định những thành tựu của khoa học đối với sự phát triển toàn diện con người, nhưng vấn đề là sự phát triển của khoa học kỹ thuật tự thân chúng không kéo theo sự phát triển trong lĩnh vực văn hoá tinh thần. Franc đã phải nói: “loài người hiện đại không còn khả năng tạo ra tính người”. Như vậy, cần phải tỏ thái độ đối với sự phát triển tiếp theo trên bình diện nhân cách con người, nếu không, con người không còn năng lực đồng cảm và sẽ uỷ thác mọi vấn đề về nhân tính, nhân phẩm cho khoa học.
Điều này được Berdyaev cảnh báo trong triết học lịch sử của mình. Ông xác định rõ ràng rằng, lịch sử là lịch sử loài người và lịch sử của những số phận cá nhân chứ không phải là lịch sử của lãnh tụ, nên thái độ với lịch sử phải là thái độ có nhân cách, có trách nhiệm, có đạo đức. Ông phản đối thái độ xác tín đối với tính có quy luật của lịch sử. Tâm thế tin tưởng một cách vô căn cứ vào tương lai tốt đẹp mà không biết suy nghĩ nghiêm túc về việc bắt đầu xây dựng tương lai đó như thế nào (Berdyaev gọi là Tiến bộ giáo) sẽ hình thành một lớp người vô ơn với di sản quá khứ, tàn nhẫn với hiện tại và vô trách nhiệm với tương lai.
Hơn nữa, nó còn tạo ra tâm lý thù hằn z 16 giữa các thế hệ do niềm tin vào sự vượt trội tất yếu của thế hệ sau so với thế hệ trước và như vậy, tạo ra sự xa lạ ngày càng lớn giữa người với người. Chủ nghĩa vô thần trở thành một nguyên nhân quan trọng cho các vấn đề của triết học hiện sinh. Sự sụp đổ truyền thống tôn giáo ở châu Âu, một mặt, làm mất đi những giá trị nhân bản, hướng thiện trong đời sống tinh thần của xã hội mà tất cả tôn giáo đều hướng đến; mặt khác, điều đó làm cho ý thức về sự vô nghĩa, vô giá trị của đời sống càng trở nên trầm trọng. Sau cái chết của Chúa là cái chết của con người.
Andre Malraux đã viết trong bài diễn văn đọc trước Đại hội văn hoá Liên hợp quốc (1948): “Thảm kịch của châu Âu chính là cái chết của con người” [47, 188]. Triết học hiện sinh đến lúc tất yếu phải xuất hiện.