Khám Phá Dấu Ấn Chủ Nghĩa Hiện Sinh Trong Văn Xuôi Việt Nam Đương Đại

Luận án tiến sĩ văn học khám phá dấu ấn chủ nghĩa hiện sinh trong văn xuôi Việt Nam đương đại, phân tích sâu sắc ảnh hưởng và biểu hiện.

Chuyên ngành

Văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ
166
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

0.5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

0.6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án

0.7. Cơ cấu của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh trong văn học đô thị miền Nam Việt Nam trước 1975

1.2. Tình hình nghiên cứu trước năm 1975

1.3. Tình hình nghiên cứu sau năm 1975 đến nay

2. CHƯƠNG 2: KHÁI LƯỢC VỀ TRIẾT HỌC HIỆN SINH VÀ VĂN HỌC HIỆN SINH

3. CHƯƠNG 3: NHÂN VẬT MANG TÂM THỨC HIỆN SINH TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

4. CHƯƠNG 4: PHƯƠNG THỨC HUYỀN THOẠI HÓA KHÔNG GIAN, THỜI GIAN THỂ HIỆN TÂM THỨC HIỆN SINH TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO - PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Chủ nghĩa hiện sinh và văn xuôi Việt Nam đương đại

Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện như một trào lưu triết học và văn hóa lớn của thế kỷ XX, ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực, trong đó có văn học. Trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam đương đại, dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh được thể hiện qua các tác phẩm của nhiều nhà văn như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Bình Phương, và Nguyễn Việt Hà. Những tác phẩm này phản ánh sự lo âu, ám ảnh về hiện tồn, thân phận con người trong thời đại hiện đại. Luận án tiến sĩ này nhằm khám phá và phân tích sự hiện diện của tư tưởng hiện sinh trong văn xuôi Việt Nam, từ đó đánh giá sự đóng góp của nó vào quá trình hiện đại hóa văn học.

1.1. Triết học hiện sinh và văn học hiện sinh

Triết học hiện sinh bắt nguồn từ các tư tưởng của Edmund Husserl và Jean-Paul Sartre, tập trung vào thân phận con người trong một thế giới phi lý. Văn học hiện sinh là sự kết hợp giữa triết học và nghệ thuật, phản ánh sự cô đơn, lo âu, và dấn thân của con người. Trong văn xuôi Việt Nam đương đại, các nhà văn đã tiếp nhận và chuyển hóa những tư tưởng này, tạo nên một dòng chảy văn học độc đáo, phản ánh những vấn đề nhân sinh sâu sắc.

1.2. Nhân vật mang tâm thức hiện sinh

Các nhân vật trong văn xuôi Việt Nam đương đại thường mang tâm thức hiện sinh, thể hiện qua sự vong thân, cô đơn, và ám ảnh về cái chết. Những nhân vật này không chỉ là sản phẩm của nghệ thuật mà còn là hiện thân của những vấn đề xã hội và triết học. Ví dụ, trong tác phẩm của Nguyễn Bình Phương, nhân vật thường đối mặt với sự phi lý của cuộc sống, tìm kiếm ý nghĩa trong một thế giới vô nghĩa.

II. Phương thức huyền thoại hóa không gian và thời gian

Trong văn xuôi Việt Nam đương đại, các nhà văn thường sử dụng phương thức huyền thoại hóa để thể hiện tâm thức hiện sinh. Không gian và thời gian trong các tác phẩm này không chỉ là yếu tố tự nhiên mà còn mang ý nghĩa biểu tượng, phản ánh sự phi lý và bất an của con người. Nghệ thuật văn xuôi được nâng tầm qua cách xây dựng không gian và thời gian, tạo nên một thế giới nghệ thuật đa chiều, phức tạp.

2.1. Không gian huyền thoại

Không gian huyền thoại trong văn xuôi Việt Nam đương đại thường được xây dựng như một thế giới phi lý, nơi con người phải đối mặt với sự cô đơn và bất an. Ví dụ, trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, không gian thường mang tính biểu tượng, phản ánh sự đổ vỡ của các giá trị truyền thống và sự bất lực của con người trước thực tại.

2.2. Thời gian hiện sinh

Thời gian trong văn xuôi hiện sinh thường được miêu tả như một dòng chảy vô định, phản ánh sự bất an và lo âu của con người. Các nhà văn như Nguyễn Bình Phương và Thuận thường sử dụng thời gian như một công cụ để khám phá tâm thức nhân vật, từ đó làm nổi bật những vấn đề hiện sinh như sự tồn tại, cái chết, và ý nghĩa cuộc sống.

III. Ý nghĩa và đóng góp của luận án

Luận án tiến sĩ này không chỉ khám phá dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong văn xuôi Việt Nam đương đại mà còn đóng góp vào việc nhận diện và đánh giá sự phát triển của văn học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Luận án cung cấp một cái nhìn toàn diện về sự tiếp nhận và chuyển hóa các tư tưởng hiện sinh trong văn học, từ đó mở ra hướng nghiên cứu mới cho các nhà phê bình và nghiên cứu văn học.

3.1. Giá trị khoa học

Luận án đã hệ thống hóa và phân tích một cách chuyên sâu các yếu tố hiện sinh trong văn xuôi Việt Nam đương đại, góp phần làm sáng tỏ quá trình hiện đại hóa văn học. Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện về chủ đề này, mang lại giá trị khoa học và thực tiễn cao.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được ứng dụng trong giảng dạy và nghiên cứu văn học, giúp sinh viên và nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về sự phát triển của văn xuôi Việt Nam đương đại. Ngoài ra, luận án cũng góp phần thúc đẩy sự giao lưu văn hóa và văn học giữa Việt Nam và thế giới.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ văn học dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong văn xuôi việt nam đương đại

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh trong văn học đô thị miền Nam Việt Nam trước 1975 “Để chọn một lý thuyết triết học và mỹ học được du nhập và có ảnh hưởng rộng rãi nhất trong lý luận và sáng tác văn học ở miền Nam Việt Nam những năm 1954 - 1975, có lẽ nhiều người sẽ không ngần ngại chọn chủ nghĩa hiện sinh” [106, tr. Những bài viết giới thiệu về chủ nghĩa hiện sinh của các giáo sư triết học giảng dạy tại trường Đại học Văn khoa Sài Gòn lúc bấy giờ như Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Lê Thành Trị, Nguyễn Văn Trung… là nhịp cầu chính dẫn chủ nghĩa hiện sinh đến với giới trí thức và những người sáng tác ở miền Nam trong những ngày tháng sục sôi và phức tạp ấy. Các công trình triết học và sáng tác văn học của F.

Camus, Simon de Beauvoir, F. Sagan… được dịch thuật và đăng tải rầm rộ trên nhiều tờ báo và tạp chí đương thời (Tạp chí Văn, Bách Khoa, Khởi Hành, Tin Sách, Tư Tưởng, Sáng Tạo, Trình Bày…). Đối với sự hiện diện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học đô thị miền Nam trước 1975, tính chất phức tạp có thể nhìn thấy ở tình hình nghiên cứu bộ phận văn học này. Tình hình nghiên cứu trước năm 1975 Giới nghiên cứu phê bình miền Nam như Tạ Tỵ, Huỳnh Phan Anh, Cô Phương Thảo, Đặng Tiến, Lê Phương Chi, Nguyễn Nguyễn….

trong các chuyên luận phê bình, bài viết điểm sách, giới thiệu sách… đánh giá cao những tác phẩm viết về thảm kịch đời sống tầm thường, buồn nôn, về thân phận con người trong xã hội loạn li luôn bị đe dọa của các tác giả như Duyên Anh, Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Nhật Tiến, Nguyễn Đình Toàn… Huỳnh Phan Anh trong chuyên luận Duyên Anh tuổi trẻ, mộng và thực cho rằng tác phẩm của Duyên Anh là tiếng nói của thân phận con người, của tuổi trẻ đầy mộng ước. Trong Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay, các nhà văn như Tuý Hồng, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Thế Uyên, Nhật Tiến đều được tác giả Tạ Tỵ đánh giá cao và trân trọng ở sự trăn trở, xót thương cho sự bất lực của con người. Với Nhật Tiến, Tạ Tỵ cho rằng: “Cũng mang tâm trạng kẻ lưu đày bất đắc dĩ giữa thực tại, qua hình ảnh gã nông dân Lỗ Ma Ni trong tác phẩm Giờ thứ hai mươi lăm của Gheorghiu, Nhật Tiến bị ám ảnh, giãy giụa trong mỗi suy nghĩ về thân phận con người trước cường lực, trước bất hạnh. Nhà văn cố gắng chống lại cái giờ thứ hai mươi lăm đó, bằng cách níu lại chút tình người, giữa cơn phá sản tinh thần, 6 chẳng những do chiến tranh, còn do sự ngờ vực, đày đọa lẫn nhau, trong một thế giới đang đi dần vào tuyệt vọng!…”.

Với Thế Uyên - “nhà văn trẻ đã vào đời bằng một thái độ”, Tạ Tỵ cũng có cái nhìn trân trọng đó về một nhà văn có tài và đã dùng tác phẩm của mình để thể hiện “những gì nghĩ về thế hệ mình, về xã hội, mà đích thực, để xác định một vị trí và chiều hướng sáng tạo được ấn định rõ ràng trong tâm thức”, những “nỗi bỏng cháy, giãy giụa của thân phận làm người”. Quan niệm bi đát và thái độ sống của Dương Nghiễm Mậu được Tạ Tỵ chỉ ra là chịu ảnh hưởng của thời cuộc và tư tưởng phương Tây với Sartre và Camus khi “đặt ra vấn đề thân phận con người, nhất là tuổi trẻ” [143]. Những vấn đề về thân phận con người được nhìn nhận trong các bài viết đó đã thừa nhận sự có mặt của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học đô thị miền Nam trước 1975. Không xem chủ nghĩa hiện sinh như hệ thống tư tưởng phù hợp với đời sống tinh thần con người trong thời đại rối ren và bi đát, nhiều nhà nghiên cứu như: Thạch Phương (Khuynh hướng chống cộng, mũi xung kích của văn học thực dân mới), Trần Hiếu Minh (Suy nghĩ bước đầu về nền văn nghệ trên một nửa đất nước: Văn nghệ miền Nam), Trường Lưu (Mấy nét về khuynh hướng đồi truỵ trong văn học miền Nam vùng tạm bị chiếm), Phạm Văn Sĩ (Văn học giải phóng miền Nam 1954 - 1970)… đã phê phán gay gắt hiện tượng này, xem đó là một thứ lai căng, sa đọa, đồi truỵ, biến bộ phận văn học này thành một nền văn nghệ nô dịch, một “hạng văn chương huỷ hoại con người” [102, tr.

Tác phẩm của Chu Tử (Loạn, Yêu), Nguyễn Thị Hoàng (Vòng tay học trò). bị lên án là những tác phẩm dễ dãi, dung tục, đồi trụy, mang những ảnh hưởng của văn chương suy đồi phương Tây (Phạm Văn Sỹ - Những nọc độc văn chương suy đồi phương Tây trong tiểu thuyết Yêu của Chu Tử; Vòng tay học trò - một cuốn truyện cần được phê phán nghiêm khắc; Lê Phương Chi - Loạn của Chu Tử. Như vậy, với lí do không có giá trị tích cực đối với đời sống con người, với cuộc kháng chiến của dân tộc, một thời kì văn học đô thị miền Nam bị phủ nhận hầu như hoàn toàn. Tình hình nghiên cứu sau năm 1975 đến nay Sau năm 1975 không còn xuất hiện nhiều bài nghiên cứu về văn học hiện sinh miền Nam như giai đoạn trước.

Ở giai đoạn từ năm 1975 đến 1986, trong các công trình, bài viết về khuynh hướng văn học này như Cuộc xâm lăng về văn hóa tư tưởng của đế quốc Mĩ tại miền Nam Việt Nam (Lữ Phương), Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa (Đỗ Đức Hiểu)…, đứng trên lập trường chính trị, các tác giả đã phủ nhận 7 chủ nghĩa hiện sinh và xem “văn học hiện sinh chủ nghĩa phương Tây là một văn học suy đồi, sai lầm về cơ bản”, còn “cái gọi là “văn học hiện sinh chủ nghĩa Sài Gòn”, thì theo Đỗ Đức Hiểu, “những lời tuyên bố ồn ào “theo phương pháp hiện tượng luận” để “trở về với chính sự vật”, “nỗi cô đơn của những thiên tài, “cái nhìn” kiểu Xactơrơ, “tự do của người khác huỷ diệt tự do của tôi”, rồi những “cô đơn tuyệt đối”, sự “lưu đày” và “thế giới im lặng khủng khiếp” [58, tr.253-256] đều chỉ là một sự “bắt chước”, một thứ mốt, là “cái áo khoác bên ngoài” của “thứ “văn học” chống cộng bẩn thỉu”. Từ đó, khẳng định: “cần phê phán nghiêm khắc cái gọi là văn học hiện sinh Sài Gòn” và “vấn đề cần kết luận ở đây là phải khẳng định tính chất phản động của bộ phận “văn học” tự nhận là “hiện sinh” này” [58, tr. Đến sau 1986, với độ lùi thời gian cần có, bộ phận văn học này được đánh giá, nhìn nhận lại một cách khách quan và công bằng hơn. Trong cuốn Về tư tưởng và văn học hiện đại phương Tây, tác giả Phạm Văn Sỹ thể hiện sự am hiểu về chủ nghĩa hiện sinh và khá khách quan khi nhận xét: “Trong văn học hiện sinh ở Sài Gòn, những khái niệm và luận đề về từ chối và chấp nhận, về hư vô và tự do, về nổi loạn, về dấn thân đều mang tính chất chống duy lí như trong văn học hiện sinh chủ nghĩa phương Tây.

Tuy nhiên văn học hiện sinh ở Sài Gòn ít khi có cái vẻ cao đạo, cái dáng siêu thoát như đã có trong một số truyện ở phương Tây, cũng ít khi có những băn khoăn day dứt về thân phận con người như trí thức Châu Âu” [112, tr. Nguyễn Tiến Dũng (Chủ nghĩa hiện sinh: Lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam) sau khi chỉ ra biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh trong sáng tác của Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Thị Hoàng, Duyên Anh… (và cả lối sống của thanh niên, trí thức Sài Gòn) đã đi đến kết luận: “Cuối cùng, thì chủ nghĩa hiện sinh ở Sài Gòn nó vẫn là nó. Đó là một chủ nghĩa hiện sinh bi quan đến cùng cực mà thôi”, “Chủ nghĩa hiện sinh ở Sài Gòn hơn ở đâu hết chỉ thể hiện một chủ nghĩa bi quan đến đen tối, sự tuyệt vọng và “một niềm cô độc là thường trực vĩnh viễn” mà cái chết là điểm kết thúc” [32, tr.152-153] và “Không phải ngày nay chúng ta mới thấy những độc hại của văn học hiện sinh ở Sài Gòn”, đó chỉ là “hiện thân của chủ nghĩa duy lí trong cuộc trấn áp tinh thần đối với nhân dân ta” [32, tr. Bên cạnh việc chỉ ra những hạn chế, nhiều tác giả cũng ghi nhận sự đóng góp của bộ phận văn học này trong nền văn học dân tộc.

Huỳnh Như Phương trong bài viết Chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam 1954-1975 (trên bình diện lý thuyết) khẳng định sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trên bình diện sáng tác văn học một cách tích cực: “Chủ nghĩa hiện sinh đã đem lại cho văn học miền Nam những thay đổi đáng kể, với quan niệm nghệ thuật về con người cô đơn trong một thế giới 8 phi lý, với ngôn ngữ và kỹ thuật mô tả hiện tượng luận” [106, tr. Những quan điểm phê phán mà tác giả đưa ra mang tính học thuật, khách quan và thấu đáo. Bỏ qua tâm lí e ngại, một số luận văn, luận án đã mạnh dạn tìm lại, đánh giá lại văn học đô thị miền Nam. Tiêu biểu như luận án Khảo sát sự du nhập của phân tâm học và chủ nghĩa hiện sinh vào văn học đô thị miền Nam trước 1975 của Nguyễn Phúc, Vấn đề thân phận con người trong tiểu thuyết đô thị miền Nam 1954 - 1975 của Nguyễn Thị Việt Nga.

Trong luận án, tác giả Nguyễn Phúc cho rằng việc ảnh hưởng phân tâm học và chủ nghĩa hiện sinh vào văn học đô thị miền Nam là một bước phát triển cần ghi nhận, là một sự tìm tòi trong sáng tác ở các đô thị miền Nam Việt Nam. Tác giả Nguyễn Thị Việt Nga chỉ ra: “Giá trị mà tiểu thuyết đô thị miền Nam mang lại về mặt tác động khách quan là tiếng nói bất bình của con người trước xã hội hiện tại, bất bình với chiến tranh” bởi “những cảm giác bất an, nỗi lo âu, sợ hãi của con người trước chết chóc do chiến tranh gây ra, những cảnh đời bất hạnh và nỗi khổ trong cuộc sống tù túng; những ngang trái, giả dối, phi lí diễn ra trong xã hội qua các tác phẩm tiểu thuyết đô thị miền Nam ít nhiều phản ánh xã hội đương thời, qua đó, mang đến cho người đọc thái độ không thể dung hòa” [90, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án "Dấu Ấn Chủ Nghĩa Hiện Sinh Trong Văn Xuôi Việt Nam Đương Đại" khám phá sự hiện diện và ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Việt Nam hiện đại. Tác giả phân tích các tác phẩm tiêu biểu, chỉ ra cách mà các nhà văn đã thể hiện những khía cạnh của sự tồn tại, tự do và sự tìm kiếm ý nghĩa trong cuộc sống. Luận án không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về văn học đương đại mà còn giúp độc giả hiểu rõ hơn về bối cảnh xã hội và tâm lý con người trong thời kỳ biến động.

Để mở rộng thêm kiến thức về các thể loại văn học và cách tiếp cận khác nhau, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận án tiến sĩ hồi ký tự truyện hiện đại việt nam từ góc nhìn diễn ngôn thể loại, nơi phân tích thể loại hồi ký tự truyện trong văn học hiện đại. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ tính đối thoại trong truyện ngắn nguyễn minh châu sau 1975 sẽ giúp bạn hiểu thêm về cách thức giao tiếp và đối thoại trong văn học. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ anh a study of rhetorical devices in articles from national geographic magazine sẽ cung cấp cái nhìn về các biện pháp tu từ, mở rộng khả năng phân tích văn bản của bạn. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn đào sâu hơn vào các chủ đề liên quan.