Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh trong văn học đô thị miền Nam Việt Nam trước 1975 “Để chọn một lý thuyết triết học và mỹ học được du nhập và có ảnh hưởng rộng rãi nhất trong lý luận và sáng tác văn học ở miền Nam Việt Nam những năm 1954 - 1975, có lẽ nhiều người sẽ không ngần ngại chọn chủ nghĩa hiện sinh” [106, tr. Những bài viết giới thiệu về chủ nghĩa hiện sinh của các giáo sư triết học giảng dạy tại trường Đại học Văn khoa Sài Gòn lúc bấy giờ như Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Lê Thành Trị, Nguyễn Văn Trung… là nhịp cầu chính dẫn chủ nghĩa hiện sinh đến với giới trí thức và những người sáng tác ở miền Nam trong những ngày tháng sục sôi và phức tạp ấy. Các công trình triết học và sáng tác văn học của F.
Camus, Simon de Beauvoir, F. Sagan… được dịch thuật và đăng tải rầm rộ trên nhiều tờ báo và tạp chí đương thời (Tạp chí Văn, Bách Khoa, Khởi Hành, Tin Sách, Tư Tưởng, Sáng Tạo, Trình Bày…). Đối với sự hiện diện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học đô thị miền Nam trước 1975, tính chất phức tạp có thể nhìn thấy ở tình hình nghiên cứu bộ phận văn học này. Tình hình nghiên cứu trước năm 1975 Giới nghiên cứu phê bình miền Nam như Tạ Tỵ, Huỳnh Phan Anh, Cô Phương Thảo, Đặng Tiến, Lê Phương Chi, Nguyễn Nguyễn….
trong các chuyên luận phê bình, bài viết điểm sách, giới thiệu sách… đánh giá cao những tác phẩm viết về thảm kịch đời sống tầm thường, buồn nôn, về thân phận con người trong xã hội loạn li luôn bị đe dọa của các tác giả như Duyên Anh, Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Nhật Tiến, Nguyễn Đình Toàn… Huỳnh Phan Anh trong chuyên luận Duyên Anh tuổi trẻ, mộng và thực cho rằng tác phẩm của Duyên Anh là tiếng nói của thân phận con người, của tuổi trẻ đầy mộng ước. Trong Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay, các nhà văn như Tuý Hồng, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Thế Uyên, Nhật Tiến đều được tác giả Tạ Tỵ đánh giá cao và trân trọng ở sự trăn trở, xót thương cho sự bất lực của con người. Với Nhật Tiến, Tạ Tỵ cho rằng: “Cũng mang tâm trạng kẻ lưu đày bất đắc dĩ giữa thực tại, qua hình ảnh gã nông dân Lỗ Ma Ni trong tác phẩm Giờ thứ hai mươi lăm của Gheorghiu, Nhật Tiến bị ám ảnh, giãy giụa trong mỗi suy nghĩ về thân phận con người trước cường lực, trước bất hạnh. Nhà văn cố gắng chống lại cái giờ thứ hai mươi lăm đó, bằng cách níu lại chút tình người, giữa cơn phá sản tinh thần, 6 chẳng những do chiến tranh, còn do sự ngờ vực, đày đọa lẫn nhau, trong một thế giới đang đi dần vào tuyệt vọng!…”.
Với Thế Uyên - “nhà văn trẻ đã vào đời bằng một thái độ”, Tạ Tỵ cũng có cái nhìn trân trọng đó về một nhà văn có tài và đã dùng tác phẩm của mình để thể hiện “những gì nghĩ về thế hệ mình, về xã hội, mà đích thực, để xác định một vị trí và chiều hướng sáng tạo được ấn định rõ ràng trong tâm thức”, những “nỗi bỏng cháy, giãy giụa của thân phận làm người”. Quan niệm bi đát và thái độ sống của Dương Nghiễm Mậu được Tạ Tỵ chỉ ra là chịu ảnh hưởng của thời cuộc và tư tưởng phương Tây với Sartre và Camus khi “đặt ra vấn đề thân phận con người, nhất là tuổi trẻ” [143]. Những vấn đề về thân phận con người được nhìn nhận trong các bài viết đó đã thừa nhận sự có mặt của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học đô thị miền Nam trước 1975. Không xem chủ nghĩa hiện sinh như hệ thống tư tưởng phù hợp với đời sống tinh thần con người trong thời đại rối ren và bi đát, nhiều nhà nghiên cứu như: Thạch Phương (Khuynh hướng chống cộng, mũi xung kích của văn học thực dân mới), Trần Hiếu Minh (Suy nghĩ bước đầu về nền văn nghệ trên một nửa đất nước: Văn nghệ miền Nam), Trường Lưu (Mấy nét về khuynh hướng đồi truỵ trong văn học miền Nam vùng tạm bị chiếm), Phạm Văn Sĩ (Văn học giải phóng miền Nam 1954 - 1970)… đã phê phán gay gắt hiện tượng này, xem đó là một thứ lai căng, sa đọa, đồi truỵ, biến bộ phận văn học này thành một nền văn nghệ nô dịch, một “hạng văn chương huỷ hoại con người” [102, tr.
Tác phẩm của Chu Tử (Loạn, Yêu), Nguyễn Thị Hoàng (Vòng tay học trò). bị lên án là những tác phẩm dễ dãi, dung tục, đồi trụy, mang những ảnh hưởng của văn chương suy đồi phương Tây (Phạm Văn Sỹ - Những nọc độc văn chương suy đồi phương Tây trong tiểu thuyết Yêu của Chu Tử; Vòng tay học trò - một cuốn truyện cần được phê phán nghiêm khắc; Lê Phương Chi - Loạn của Chu Tử. Như vậy, với lí do không có giá trị tích cực đối với đời sống con người, với cuộc kháng chiến của dân tộc, một thời kì văn học đô thị miền Nam bị phủ nhận hầu như hoàn toàn. Tình hình nghiên cứu sau năm 1975 đến nay Sau năm 1975 không còn xuất hiện nhiều bài nghiên cứu về văn học hiện sinh miền Nam như giai đoạn trước.
Ở giai đoạn từ năm 1975 đến 1986, trong các công trình, bài viết về khuynh hướng văn học này như Cuộc xâm lăng về văn hóa tư tưởng của đế quốc Mĩ tại miền Nam Việt Nam (Lữ Phương), Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa (Đỗ Đức Hiểu)…, đứng trên lập trường chính trị, các tác giả đã phủ nhận 7 chủ nghĩa hiện sinh và xem “văn học hiện sinh chủ nghĩa phương Tây là một văn học suy đồi, sai lầm về cơ bản”, còn “cái gọi là “văn học hiện sinh chủ nghĩa Sài Gòn”, thì theo Đỗ Đức Hiểu, “những lời tuyên bố ồn ào “theo phương pháp hiện tượng luận” để “trở về với chính sự vật”, “nỗi cô đơn của những thiên tài, “cái nhìn” kiểu Xactơrơ, “tự do của người khác huỷ diệt tự do của tôi”, rồi những “cô đơn tuyệt đối”, sự “lưu đày” và “thế giới im lặng khủng khiếp” [58, tr.253-256] đều chỉ là một sự “bắt chước”, một thứ mốt, là “cái áo khoác bên ngoài” của “thứ “văn học” chống cộng bẩn thỉu”. Từ đó, khẳng định: “cần phê phán nghiêm khắc cái gọi là văn học hiện sinh Sài Gòn” và “vấn đề cần kết luận ở đây là phải khẳng định tính chất phản động của bộ phận “văn học” tự nhận là “hiện sinh” này” [58, tr. Đến sau 1986, với độ lùi thời gian cần có, bộ phận văn học này được đánh giá, nhìn nhận lại một cách khách quan và công bằng hơn. Trong cuốn Về tư tưởng và văn học hiện đại phương Tây, tác giả Phạm Văn Sỹ thể hiện sự am hiểu về chủ nghĩa hiện sinh và khá khách quan khi nhận xét: “Trong văn học hiện sinh ở Sài Gòn, những khái niệm và luận đề về từ chối và chấp nhận, về hư vô và tự do, về nổi loạn, về dấn thân đều mang tính chất chống duy lí như trong văn học hiện sinh chủ nghĩa phương Tây.
Tuy nhiên văn học hiện sinh ở Sài Gòn ít khi có cái vẻ cao đạo, cái dáng siêu thoát như đã có trong một số truyện ở phương Tây, cũng ít khi có những băn khoăn day dứt về thân phận con người như trí thức Châu Âu” [112, tr. Nguyễn Tiến Dũng (Chủ nghĩa hiện sinh: Lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam) sau khi chỉ ra biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh trong sáng tác của Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Thị Hoàng, Duyên Anh… (và cả lối sống của thanh niên, trí thức Sài Gòn) đã đi đến kết luận: “Cuối cùng, thì chủ nghĩa hiện sinh ở Sài Gòn nó vẫn là nó. Đó là một chủ nghĩa hiện sinh bi quan đến cùng cực mà thôi”, “Chủ nghĩa hiện sinh ở Sài Gòn hơn ở đâu hết chỉ thể hiện một chủ nghĩa bi quan đến đen tối, sự tuyệt vọng và “một niềm cô độc là thường trực vĩnh viễn” mà cái chết là điểm kết thúc” [32, tr.152-153] và “Không phải ngày nay chúng ta mới thấy những độc hại của văn học hiện sinh ở Sài Gòn”, đó chỉ là “hiện thân của chủ nghĩa duy lí trong cuộc trấn áp tinh thần đối với nhân dân ta” [32, tr. Bên cạnh việc chỉ ra những hạn chế, nhiều tác giả cũng ghi nhận sự đóng góp của bộ phận văn học này trong nền văn học dân tộc.
Huỳnh Như Phương trong bài viết Chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam 1954-1975 (trên bình diện lý thuyết) khẳng định sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trên bình diện sáng tác văn học một cách tích cực: “Chủ nghĩa hiện sinh đã đem lại cho văn học miền Nam những thay đổi đáng kể, với quan niệm nghệ thuật về con người cô đơn trong một thế giới 8 phi lý, với ngôn ngữ và kỹ thuật mô tả hiện tượng luận” [106, tr. Những quan điểm phê phán mà tác giả đưa ra mang tính học thuật, khách quan và thấu đáo. Bỏ qua tâm lí e ngại, một số luận văn, luận án đã mạnh dạn tìm lại, đánh giá lại văn học đô thị miền Nam. Tiêu biểu như luận án Khảo sát sự du nhập của phân tâm học và chủ nghĩa hiện sinh vào văn học đô thị miền Nam trước 1975 của Nguyễn Phúc, Vấn đề thân phận con người trong tiểu thuyết đô thị miền Nam 1954 - 1975 của Nguyễn Thị Việt Nga.
Trong luận án, tác giả Nguyễn Phúc cho rằng việc ảnh hưởng phân tâm học và chủ nghĩa hiện sinh vào văn học đô thị miền Nam là một bước phát triển cần ghi nhận, là một sự tìm tòi trong sáng tác ở các đô thị miền Nam Việt Nam. Tác giả Nguyễn Thị Việt Nga chỉ ra: “Giá trị mà tiểu thuyết đô thị miền Nam mang lại về mặt tác động khách quan là tiếng nói bất bình của con người trước xã hội hiện tại, bất bình với chiến tranh” bởi “những cảm giác bất an, nỗi lo âu, sợ hãi của con người trước chết chóc do chiến tranh gây ra, những cảnh đời bất hạnh và nỗi khổ trong cuộc sống tù túng; những ngang trái, giả dối, phi lí diễn ra trong xã hội qua các tác phẩm tiểu thuyết đô thị miền Nam ít nhiều phản ánh xã hội đương thời, qua đó, mang đến cho người đọc thái độ không thể dung hòa” [90, tr.