mở đầu cho công cuộc cải cách đất nước, canh tân về tư tưởng ở Nhật Bản. Trước năm 1868, Nhật Bản là một nước phong kiến, thi hành chính sách bế quan tỏa cảng, rơi vào tình trạng bế tắc, suy thoái, đứng trước nguy cơ bị các nước thực dân phương Tây thôn tính đã tiến hành công cuộc duy tân đất nước trên tất cả các lĩnh vực như cải cách thể chế chính trị; coi trọng giáo dục, nghiên cứu phát triển khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất; phát triển công, nông, thương nghiệp; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xóa bỏ những tập quán, hủ tục lạc hậu, thay đổi tác phong, lề lối sinh hoạt… đã chứng tỏ sự đúng đắn trong việc chấn hưng, phát triển đất nước. Thành công trong công cuộc cải cách đã giúp Nhật Bản trở thành một tấm gương, một hình mẫu, là nguồn động viên, cổ vũ và niềm tự hào của các dân tộc phương Đông. Chính vì vậy, xu hướng học Nhật ngày càng phổ biến.
Các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, v. đã xuất hiện nhiều phong trào sang Nhật học tập và nghiên cứu. Sự nghiệp cải cách của Nhật Bản đã tác động sâu sắc đến các nhà tư tưởng ở Việt Nam. Đòi hỏi bức thiết lúc này chính là cần phải có một hệ tư tưởng mới phù hợp, đáp ứng yêu cầu của cách mạng.
Do đó, vấn đề mà các nhà tư tưởng quan tâm và đi tìm 13 lời giải đáp chính là những quan điểm chính trị nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, canh tân đất nước, tiếp thu khoa học kỹ thuật phương Tây. tạo nền tảng vững chắc cho đất nước tiến vào con đường văn minh, phát triển và cường thịnh. Cùng thời gian đó, Trung Quốc vẫn là một nước phong kiến nông nghiệp lạc hậu, kém xa sự phát triển so với các nước phương Tây mặc dù đất rộng, người đông, tài nguyên phong phú. Nguyên nhân đó đã khiến Trung Quốc trở thành con mồi của tư bản đế quốc phương Tây.
Trước tình cảnh hiểm nghèo của dân tộc, triều đình phong kiến Mãn Thanh đã tỏ ra nhu nhược dẫn đến đất nước bị tư bản phương Tây chia nhau xâu xé. Từ đây, xã hội Trung Quốc có sự phân hóa sâu sắc, tạo cơ hội cho tư tưởng dân chủ tư sản nảy nở và phát triển. Từ cuối thế kỉ XIX, những tư tưởng duy tân đã xuất hiện, nhưng chỉ sau các sự kiện như chiến tranh Trung - Pháp (1885), chiến tranh Trung - Nhật (1894), Trung Quốc kí với Nhật “Hòa ước Mã Quan” thì một bộ phận sĩ phu Trung Quốc mới thức tỉnh, đi tìm con đường để cứu đất nước. Những tư tưởng dân chủ tư sản được du nhập vào trong nước là tiền đề để các sĩ phu Trung Quốc lựa chọn phương Tây là địa điểm trong hành trình tìm đường cứu nước.
Tiêu biểu thời kỳ này là một số nhân vật như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng… Họ đã lập các trường học, các hội, nhóm để giới thiệu những tiến bộ của văn minh phương Tây và cổ vũ cho con đường duy tân cải cách. Trào lưu tư tưởng cải cách đó đã thuyết phục được vua Quang Tự. Tuy nhiên cuộc cải cách mau chóng thất bại và bị đàn áp dã man bởi phái thủ cựu trong triều đình do Từ Hi Thái hậu đứng đầu. Mặc dù phong trào duy tân ở Trung Quốc thất bại nhưng đã chỉ ra việc cải cách đất nước là yêu cầu cấp thiết đối với Trung Quốc và các nước phương Đông lúc bấy giờ.
Đó cũng chính là một nguồn cổ vũ to lớn đối với sĩ phu yêu nước ở Việt Nam. Tóm lại, cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX tình hình thế giới có nhiều chuyển biến phức tạp. Chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa đã làm nảy sinh nhu cầu xâm chiếm thuộc địa để tìm nguồn nhiên liệu và thị trường tiêu thụ. Những khu vực có trình độ thấp kém, lạc hậu như châu Á, châu Phi, Mỹ La tinh trở thành mục tiêu xâm lược của các nước đế quốc.
Trước nguy 14 cơ bị phương Tây xâm lược, một số quốc gia ở châu Á đã lựa chọn cho mình những biện pháp riêng nhằm làm thay đổi bộ mặt đất nước, như cải cách duy tân ở Nhật Bản và Trung Quốc. Những đặc điểm trên đã ảnh hưởng sâu sắc đến các nhà tư tưởng Việt Nam, trong đó có tư tưởng lập hiến của Phan Châu Trinh. Tình hình trong nước Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Việt Nam vẫn là một quốc gia phong kiến lạc hậu. Chế độ quân chủ chuyên chế nhà Nguyễn đã làm cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Trong bối cảnh ấy, vào năm 1858, Việt Nam bị tước đoạt nền độc lập bởi họng súng của quân xâm lược Pháp. Sau khi khởi nghĩa Cần Vương thất bại, bộ máy thống trị của thực dân Pháp từng bước được thiết lập trên khắp ba miền của đất nước, cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất được bắt đầu và Việt Nam trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Trong lĩnh vực chính trị - xã hội, tất cả bộ máy hành chính đều do thực dân Pháp nắm quyền điều hành, đồng thời chúng sử dụng giai cấp phong kiến, địa chủ làm tay sai nhằm dễ bề cai trị người Việt. Thực dân Pháp chia tách nước ta thành ba kỳ với ba chế độ chính trị khác nhau gây nên những chia rẽ, hằn thù dân tộc.
Bên cạnh đó, lực lượng quân đội Pháp cũng được tăng cường sang Việt Nam ngày càng nhiều hơn, chúng ra sức củng cố các cơ quan cảnh sát, mật thám, nhà tù. ở khắp các địa phương trong cả nước để đàn áp nhân dân đứng lên đấu tranh và phong trào cách mạng. Về mặt xã hội, bộ máy thống trị của thực dân Pháp sử dụng những thủ đoạn vô cùng hèn hạ, đê tiện. Chúng dung túng, du nhập văn hóa đồi trụy; duy trì các hủ tục; khuyến khích những thói hư, tật xấu, tệ nạn như rượu chè, cờ bạc, hút chích, đĩ điếm… cố tình kìm hãm nhân dân Việt Nam trong vòng ngu dốt.
Bất cứ người nào đi ngược lại với chính sách cai trị của Pháp thì đều bị chúng ngăn cấm, bắt bớ, đàn áp không thương tiếc. Trong lĩnh vực kinh tế, Việt Nam là đất nước có nguồn tài nguyên phong phú và nguồn lao động vừa đông vừa rẻ. Trước khi Pháp xâm lược, nước ta chỉ có một nền kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp lạc hậu tự cấp, tự túc. Sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đẩy mạnh việc khai thác bóc lột kinh tế tại chỗ để kiếm lợi nhuận, biến nước ta thành nơi đặc biệt dành riêng cho thị trường 15 Pháp.
Đồng thời, thực dân Pháp còn thực hiện độc quyền về kinh tế ở hầu hết các lĩnh vực như: độc quyền kinh doanh một số ngành công nghiệp nặng, chiếm đất lập đồn điền trồng cây công nghiệp, nắm phương tiện giao thông vận tải, khai thác những mỏ khoáng sản có trữ lượng lớn, độc quyền xuất khẩu, độc quyền ngân hàng, độc quyền phát hành giấy bạc… Chẳng hạn như, trong nông nghiệp, thực dân Pháp tập trung vơ vét xuất khẩu lúa gạo và chiếm đoạt ruộng đất của nông dân lập đồn điền để trồng cây xuất khẩu về nước, làm cho người nông dân bị cướp đoạt hết ruộng đất, ngày càng bị đẩy vào con đường bần cùng hóa. “Năm 1890, cả nước bị thực dân Pháp chiếm 10900 hecta, năm 1900 đã chiếm 301000 hecta, 1912 chiếm 470000 hecta ở Bắc Kì. Năm 1907, chúng lập được 244 đồn điền, phần lớn trồng lúa. Ngoài ra còn có đồn điền trồng cao su, cà phê, chè… Rừng cũng bị chúng chiếm đoạt để lập những khu lâm khẩn” (Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm & Lê Mậu Hãn, 2008, tr.
Trong công nghiệp, thực dân Pháp chủ trương thực hiện chính sách hạn chế phát triển công nghiệp, chỉ đầu tư chủ yếu vào công nghiệp khai thác mỏ, công nghiệp chế biến và một số ngành công nghiệp nhẹ. Trong thương mại, thực dân Pháp đã thực hiện việc độc chiếm thị trường Việt Nam và Đông Dương nói chung, độc quyền ngoại thương, thuế quan, xuất nhập khẩu. Pháp thu gom những sản phẩm, hàng hóa thiết yếu và chất lượng của Việt Nam, ngược lại, chúng bắt dân ta phải mua vào những sản phẩm, hàng hóa ế thừa, kém chất lượng. Đối với ngành giao thông vận tải, Pháp cho xây dựng mở mang hệ thống giao thông vận tải nhằm phục vụ cho việc khai thác, vơ vét tài nguyên của thực dân Pháp được thuận lợi và đó cũng là phương tiện để chúng mau chóng đưa quân đội tới những nơi cần thiết để đàn áp các cuộc nổi dậy của dân chúng.
Đối với ngành ngân hàng, thực dân Pháp chiếm quyền phát hành giấy bạc và quản lý tiền tệ ở Đông Dương; chèn ép, bóp chẹt các ngân hàng của Hoa kiều, Ấn kiều. Đồng thời, chúng thực hiện chính sách cho vay nặng lãi đối với các công ty, các nhà buôn và cho cả nông dân Việt Nam vay thông qua “Hội nông tín hỗ tương bản xứ”. Điều 16 này thể hiện rõ nét tính chất bóc lột trắng trợn của chế độ thuộc địa ở Đông Dương, làm cho nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp. Hậu quả của chính sách độc quyền về kinh tế và chính sách thuế khóa nặng nề là làm cho đa số nông dân mất dần ruộng đất và đời sống ngày càng bần cùng đi.
Dưới thời thuộc Pháp, ước tính 50% nông dân Việt Nam không có ruộng đất” (Ủy ban Khoa học xã hội, 1989, tr. Trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách văn hóa nô dịch, cổ vũ, khuyến khích các hủ tục trong ma chay, cưới hỏi, các trò mê tín dị đoan, các tệ cờ bạc, rượu chè, hút chích. Cụ thể là: “có một nghìn năm trăm ty rượu và thuốc phiện cho một nghìn làng trong khi chỉ có mười trường học cũng cho bấy nhiêu làng” (Hồ Chí Minh, 2011, t. Chúng tìm mọi cách ngăn chặn các trào lưu văn hóa tiến bộ trên thế giới du nhập vào Việt Nam, kể cả tư tưởng cách mạng Pháp.
Trong Thư gửi các đồng chí Liên Xô, 28-2-1930, Hồ Chí Minh viết: “Người An Nam, nhất là những người lao động, muốn biết nước Nga. Nhưng các sách báo cách mạng đều bị pháp luật hà khắc của đế quốc Pháp nghiêm cấm. Hơn nữa, công nhân và nông dân An Nam phần lớn không biết chữ. Những người có học chút ít không biết thứ tiếng nào khác ngoài tiếng An Nam” (Hồ Chí Minh, 2011, t.