phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu thành 2 chương, 5 tiết: Chƣơng 1: Mặc Tử và hoàn cảnh ra đời của học thuyết “kiêm ái”. Chƣơng 2: Những tư tưởng cơ bản trong học thuyết “kiêm ái” - giá trị, hạn chế và ý nghĩa của chúng. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 MẶC TỬ VÀ HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA HỌC THUYẾT “KIÊM ÁI” 1. Thân thế, sự nghiệp của Mặc Tử 1.
Giải nghĩa chữ “Mặc” trong Triết học Trung Hoa cổ đại Trong lịch sử tư tưởng triết học Trung Hoa cổ đại vào cuối thời Xuân Thu - Chiến Quốc đã xuất hiện một trường phái triết học lớn, cùng với Nho gia, Đạo gia chia nhau thống trị đời sống tinh thần ở Trung Hoa thời kỳ này, đó là trường phái triết học Mặc gia. Sự ảnh hưởng to lớn của triết học Mặc gia đã khiến Mạnh Tử phải lo lắng thốt lên rằng: “Lời của Dương Chu, Mặc Địch tràn lan thiên hạ. Những kẻ nói đạo trong thiên hạ thời nay không theo họ Dương thì theo họ Mặc” [4, tr. Người sáng lập ra trường phái triết học Mặc gia với học thuyết “Kiêm ái” nổi tiếng là kẻ thù của Khổng giáo, đó là Mặc Địch.
Sau khi Mặc Tử mất học thuyết này được bảo vệ và phát triển bởi các triết gia hậu Mặc vào thế kỷ thứ IV - III trước công nguyên, với tư tưởng nổi bật nhất về lôgic và nhận thức luận trên cơ sở duy vật của họ. Khi nghiên cứu về Mặc Tử chúng ta phải hiểu được nghĩa của từ “Mặc” trong triết học Trung Hoa cổ đại là gì? Hiểu được nó, sẽ giúp chúng ta có được một cách nhìn toàn diện hơn về trường phái Mặc gia. Theo rất nhiều sách viết về trường phái này thì họ nhìn chung đều cho rằng Mặc Tử họ Mặc, tên là Địch. Đến cuối đời nhà Thanh, Giang Tuyền có giải thích đại khái như sau: “đời xưa các học phái của Chu Tử gồm có chín dòng ai truyền lại học thống của mình thì đều xưng là nhà, là gia.
Vậy chữ gia là trỏ vào học phái, chứ không phải trỏ vào dòng họ. Cho nên về thời trước nhà Tần, chữ Mặc gia là trỏ vào học phái, không phải trỏ vào dòng họ của tác giả. Đây là lệ chung của chín nhà, theo Hán Chí có nói rõ, như Nho gia, Đạo gia, Danh gia, Âm dương gia, Tung Hoành gia, Nông gia, Tạp gia” [38, tr. Bởi vậy Giang Tuyền đi đến kết luận: “Cổ chi sở vị Mặc gia, phi tính 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thị chi xưng, nãi học thuật chi xưng giả” [38, tr.305], có nghĩa là xưa kia người ta gọi “Mặc”, không phải gọi họ tên người, mà là nói về mặt học thuật của trường phái đó mà thôi.
“Mặc” còn có nghĩa là đen, như Mạnh Tử nói “diện thâm mặc”, tức là mặt đen xì. Vậy “Mặc” có nghĩa là mặc đồ đen. Mặc Tử lấy sự cực khổ làm đức hạnh, cho nên mệnh danh học thuật của mình là Mặc. Hơn nữa, chữ Mặc còn là để gọi một tội hình khắc vào mặt và thoa mực đen đi.
Và theo Chu Lễ thì kẻ phạm tội khinh hình thường bị sa vào hạng nô lệ làm công việc khổ nhục. Như vậy, mới biết được rằng “Mặc” là hình đồ biến thành, là nô dịch. Mặc gia sinh hoạt kham khổ, lấy sự khổ hạnh để thi hành điều nhân nghĩa, xác lập đạo đức cho bản thân, từ đó đề ra đạo đức cho xã hội. Để chứng minh cho quan điểm của mình Giang Tuyền có đưa ra rất nhiều bằng chứng rãi rác ở các sách của chư tử.
Như trong sách Mặc Tử thiên Bị Thê: “Cầm Hoạt Ly sự Mặc Tử tam niên, thủ thúc biền đê, diện mục lê hoắc, dịch thân cấp sử, bất cảm vấn dục” [38, tr.306], có nghĩa là Cầm Hoạt Ly hầu Mặc Tử trong suốt ba năm chân tay bị chai rộp, mặt mũi đen sì, nhìn người ngợm khổ sở và không hề nghĩ tới những thèm muốn của mình. Như vậy, theo Giang Tuyền, chữ “Mặc” không phải là tên là dòng họ mà nó là tên gọi một học thuật. Qua thuật ngữ này chúng ta thấy được phần nào cái tinh thần của Mặc học, đó là thứ tinh thần đại diện cho nguyện vọng của tầng lớp nhân dân cần lao bị nô dịch chống lại chủ trương phục hưng chế độ phong kiến, bênh vực quyền lợi quý tộc đề đòi về xã hội nguyên thủy sơ khai với mọi thứ đều là của công, mọi người phải làm lụng, ai làm nhiều ăn nhiều, ai làm ít ăn ít của thời vua Vũ nhà Hạ. Thân thế sự nghiệp của Mặc Tử Mặc Tử là người sáng lập ra Mặc gia và ông đã được một học giả nhận xét “là một nhân vật kỳ dị nhất của Trung Hoa, kỳ dị từ tên gọi đến tư tưởng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và đời sống, kỳ dị đến nỗi gần đây người Trung Hoa ngờ rằng ông có dòng máu Ấn Độ hoặc Ả Rập chứ không thể là con cháu của Phục Hy và Thần Nông được” [21, tr.
Lời nhận xét này dựa trên cơ sở nghiên cứu về Mặc Tử, nghiên cứu này cho thấy họ Mặc là một họ cực kỳ hiếm hoi ở Trung Quốc và đồng thời tư tưởng mà Mặc gia đề xuất rất mới lạ, khác biệt rất nhiều so với các luồng tư tưởng đang tồn tại trong xã hội thời bấy giờ. Về cuộc đời và sự nghiệp của Mặc Tử người ta có nhiều cách lý giải khác nhau. Một số học giả căn cứ vào “Hán Thư”, “Nghệ Văn Chí” của Ban Cố (32 - 95) cho rằng, Mặc Tử là người nước Tống, ở miền Đông, tỉnh Hà Nam và miền Tây tỉnh Sơn Đông bây giờ. Một số khác như Tôn Di Nhượng (Đời Thanh) và Hồ Thích lại cho rằng ông là người nước Lỗ, cùng quê với Khổng Tử, quan điểm này dựa vào Hoài Nam Tử trong sách “Hoài Nam yếu lược”.
Lại có người cho rằng Mặc Tử là người nước Sở. Để trả lời xem luận điểm nào là phù hợp thì trong sách “Mặc Tử”, chương “Công - Thâu” có chép: “thầy Mặc Tử ra về, qua nước Tống”; chương “Quý - Nghĩa” có chép: “thầy Mặc Tử đi phương Nam, chơi ở nước Sở”. Sách “Lã Thị Xuân Thu”, chương “Ái Loại” có chép: “Công Thâu Ban muốn đánh nước Tống cho nước Sở, Mặc Tử biết chuyện đó, từ nước Lỗ ra đi”. Gần đây viện hàn lâm khoa học Trung Quốc đã xác định có thể nói Mặc Tử là người nước Lỗ.
Về vấn đề niên đại của Mặc Tử cũng là một vấn đề tốn khá nhiều giấy mực của các nhà nghiên cứu mà đến nay vẫn chưa ngã ngũ. Theo Hồ Thích: Mặc Tử “sinh vào khoảng giữa những năm 20 và 30 đời Chu Kính Vương (Tức là từ năm 500 đến năm 490 trước công nguyên), chết vào khoảng giữa những năm nguyên niên và năm thứ 10 đời Chu Uy - Liệt Vương (Tức là những năm 425 đến năm 416 trước công nguyên). Mặc Tử ra đời vào khi Khổng Tử 50, 60 tuổi” [35, tr. Theo công trình khảo cứu của Lương Hán Siêu thì: “Mặc sinh vào khoảng những năm 468 đến 459 trước công nguyên.
Đại thể vào khoảng hơn 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 năm sau khi Khổng Tử chết ( Khổng Tử chết năm 479 trước công nguyên). Mặc Tử chết vào khoảng đời Chu An Vương (Tức là vào khoảng những năm 390 đến 382 trước công nguyên) tức độ hơn 10 năm trước ngày sinh của Mạnh Tử (Mạnh Tử sinh năm 372 trước công nguyên). Tiền Mục lại cho rằng, Mặc Tử sinh năm 479 trước công nguyên, chậm lắm cũng không ngoài 10 năm; chết năm 394, chậm lắm cũng không ngoài 10 năm. Trương Quý Đồng lại cho rằng, Mặc Tử sinh năm 480 và chết năm 400 trước công nguyên.
Mỗi luận thuyết trên đây cũng có những dẫn chứng riêng để chứng minh tính đúng đắn của mình. Nhưng ở các luận thuyết ấy đều có một điểm chung đó là cùng cho rằng Mặc Tử sinh vào khoảng giữa thời Khổng Tử và Mạnh Tử, nói một cách khác tức là vào khoảng giữa thời Xuân Thu - Chiến Quốc giao nhau. Điều đó có căn cứ để biết được năm sinh, năm mất của Mặc Tử. Về tính giai cấp của Mặc Tử, thì trong các sách cổ chép rất ít về lúc sinh thời của ông, cho nên cũng có phần không tìm ra được rõ ràng.
Tư Mã Thiên cho rằng Mặc Tử làm đại phu nước Tống, Lương Khải Siêu lại cho rằng: “xem trong sách gốc, thì không có vết tích gì là Mặc Tử đã làm quan nước Tống”. Thuyết này có thể đúng. Sách “Trang Tử”, chương “Thiên hạ” cho rằng “Mặc Tử lấy việc giữ thân khổ hạnh là điều quan trọng nhất”. Chuyện Mặc Tử không hề làm quan có lẽ đúng sự thật.
Chính Mặc Tử cũng thường nói: “không thi hành được đạo thì không hưởng lộc nhà vua; không nghe thấy điều nghĩa thì không ở với triều đình nhà vua”. Khác với Trang Tử, Mặc Tử không chủ trương tuyệt đối không tham gia chính trị, mà lấy việc có thể hay không thể thực hành tư tưởng của mình làm điều kiện có hay không tham gia chính trị. Tinh thần này của Mặc Tử khác rất nhiều so với giai cấp thống trị đương thời. Chính “việc sang chơi nước Sở”, “đi sứ sang nước Vệ”, “đi cứu nước Tống” là quá trình Mặc Tử tiến hành thực thi các chủ thuyết của mình.
Tư tưởng của ông khác hẳn với với tư tưởng của tầng lớp lãnh chúa 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phong kiến và bọn địa chủ mới lên và dường như một phần nào đó nó phản ánh tình hình tư tưởng và yêu cầu của nông dân thời đó. Tuy nhiên có một điều chúng ta phải hiểu rõ đó là Mặc Tử có thể không phải xuất thân từ tầng lớp nông dân. Mặc dù, thời kỳ này đã có những nông dân tự cày lấy ruộng của mình, họ cũng đã có cơ hội để học hành, nhưng chưa lấy việc học hành coi như là một việc làm thường xuyên. Theo sách “Hoài Nam Tử yếu lược” chép thì: “Hồi nhỏ Mặc Tử có học lấy nghiệp của nhà Nho, chịu nhận học thuật của Khổng Tử, nhưng lại cho rằng cái lễ của đạo Nho quá phiền nhiễu mà không vui lòng, việc tống táng phiền phức quá chỉ tốn của và làm nghèo dân, việc tang phục lâu quá chỉ kéo dài sự đau buồn của người sống và có hại cho công việc”.
Sách “Hoài Nam Tử yếu lược” tuy có thể là do người đời Tây Hán làm ra, những lời trong ấy cũng không thể hoàn toàn căn cứ được.