Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo Chương 2: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng ta hiện nay 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TỰ DO TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO 1. Cơ sở hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngƣỡng, tôn giáo 1. Kế thừa quan niệm về tôn giáo và tự do tín ngƣỡng, tôn giáo của dân tộc Việt Nam Tín ngưỡng, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội luôn biến động cùng với sự biến thiên của lịch sử nhân loại và có khả năng tồn tại lâu dài trong xã hội. Mỗi quốc gia với những điều kiện địa lý nhất định, với nguồn gốc dân cư nhất định, với điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội nhất định với những nét văn hoá, phong tục, tập quán riêng thì cũng có những nét tín ngưỡng, tôn giáo riêng biệt.
Điều này được C. Ăngghen chỉ rõ: “Sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật…đều dựa trên cơ sở phát triển kinh tế. Nhưng tất cả có ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế” [42, tr. Như vậy, có thể thấy một quốc gia với những sinh hoạt sống, với truyền thống văn hoá, với những điều kiện lịch sử nhất định là nguồn gốc cơ bản hình thành nên đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của quốc gia đó.
Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam châu Á, trông ra biển Đông, trong lịch sử và hiện tại rất thuận lợi cho việc giao lưu của văn hóa Đông - Tây, Nam - Bắc. Vùng đất của người Việt Nam sinh sống thuộc trung tâm khu vực nhiệt đới gió mùa, có núi cao, biển rộng, sông dài. Người Việt Nam lại cởi mở, bao dung, hòa hợp, chứ không hẹp hòi, khép kín chính vì vậy trong lịch sử và hiện tại người Việt Nam đã tiếp thu được nhiều giá trị văn hóa của thế giới. Việt Nam là một quốc gia đất không rộng, người không đông, nhưng dung nạp và hiện đang tồn tại nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau.
Có thể nói, Việt Nam là một bảo tàng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo của thế giới. Từ những hình thức tín ngưỡng, tôn giáo sơ khai đến hiện đại; từ tín ngưỡng, tôn giáo phương Đông cổ đại đến tín ngưỡng, tôn giáo phương Tây cận, hiện đại cùng tồn tại bên cạnh những loại hình tín ngưỡng, tôn giáo dân gian, bản địa của nhiều cộng đồng dân tộc Việt Nam. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Là quốc gia đa dạng về tín ngưỡng, tôn giáo ngoài các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo sơ khai mang đậm bản sắc người Việt Nam như: tín ngưỡng Tô tem; tín ngưỡng Bái vật; tín ngưỡng Vật linh; tín ngưỡng Sa ma; tín ngưỡng phồn thực…thì còn có nhiều hình thức tín ngưỡng có tính triết lý thờ phụng sâu sắc. Có thể chỉ ra các hình thức tín ngưỡng rất điển hình như tín ngưỡng thờ thành Hoàng, tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc, tín ngưỡng thờ Mẫu.đặc biệt là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
Hiện nay, thờ cúng tổ tiên đã trở thành một tín ngưỡng phổ biến đối với người Việt Nam. Có thể thấy, người Việt Nam thờ rất nhiều các vị thần: Có vị thần đại diện cho tự nhiên như thần Tản Viên, thần sông, thần núi, thần cây; có vị thần là những người trong lịch sử có công dựng làng, giữ nước; có thần là nam, có thần là nữ…tất cả tạo ra sự đa dạng trong đời sống tín ngưỡng người Việt Nam. Đây là các hình thức tín ngưỡng sơ khai, nội sinh phản ánh đời sống tâm linh phong phú của người Việt Nam. Theo các tài liệu khảo cổ học, loại hình tín ngưỡng này xuất hiện rất sớm từ thời văn hóa Hòa Bình, tiếp tục phát triển mạnh trong giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên và Đông Sơn.
Các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo này đã tồn tại cùng với dân tộc hàng nghìn năm lịch sử trở thành truyền thống văn hoá của dân tộc, chúng thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, nếp nghĩ, cách sống của cả cộng đồng. Đây là cơ sở hình thành nên nét đặc trưng riêng biệt trong tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt Nam. Việt Nam, với vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao lưu quốc tế cùng với tâm thức cởi mở của nhân dân khi tiếp nhận các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Do đó, trong lịch sử và hiện tại, ngoài những tín ngưỡng bản địa thì còn có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo từ bên ngoài du nhập vào với nhiều hình thức khác nhau.
Dù là tín ngưỡng, tôn giáo nào từ đâu đến, người Việt Nam cũng tiếp nhận một cách có chọn lọc, miễn là nó không đi ngược với lợi ích quốc gia, không xem thường, miệt thị văn hóa bản địa. Có tôn giáo từ Trung Quốc xuống, có tôn giáo từ Ấn Độ sang, có tôn giáo từ châu Âu đến đều được tiếp nhận đã tạo ra sự đa dạng về tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc Việt Nam. Vào thế kỷ thứ nhất sau công nguyên cùng với sự xâm lược của nhà Hán, Nho giáo và Đạo giáo đã vào Việt Nam. Nho giáo sau khi vào Việt Nam đã được chính 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền phong kiến đón nhận.
Trong một thời gian dài, Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến Việt Nam. Những giá trị tư tưởng tích cực của Nho giáo đặc biệt là tư tưởng về chính trị, đạo đức và giáo dục được người Việt Nam đón nhận cùng hòa vào hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc. Khác với Nho giáo, Phật giáo là một tôn giáo thuần túy với triết lý nhân bản là từ bi, hỉ xả, cứu nhân độ thế, đề cao việc thiện, loại trừ điều ác đã nhanh chóng được nhân dân đón nhận. Tuy nhiên, cả Nho giáo và Phật giáo sau khi vào Việt Nam đã bị khúc xạ, biến đổi ít nhiều cho phù hợp với truyền thống dân tộc.
Khi kết hợp với tín ngưỡng bản địa tạo nên những ngôi chùa, những đạo quán vừa mang đặc điểm của Phật giáo vừa mang đặc điểm của Đạo giáo, vừa có đặc điểm của tín ngưỡng địa phương. Không chỉ có các tôn giáo lớn ở phương Đông du nhập vào Việt Nam, các tôn giáo lớn ở phương Tây cũng bằng nhiều con đường khác nhau để du nhập vào Việt Nam. Trong những tôn giáo lớn ở phương Tây đã du nhập vào phải kể đến Kitô giáo. Công giáo một nhánh lớn nhất của đạo Kitô giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVI bởi các thương gia và các nhà truyền giáo người châu Âu.
Quá trình du nhập và tồn tại ở Việt Nam, đạo Công giáo có nhiều bước thăng trầm, thậm chí có thời kỳ bị coi là “dị giáo”, “tà giáo”. Mặc dù vậy, trong quá trình tồn tại ở Việt Nam, đạo Công giáo đã từng bước được nhân dân chấp nhận. Cùng với đạo Công giáo, đạo Tin Lành là một nhánh khác của Kitô giáo du nhập đến Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. So với các tôn giáo khác, Tin Lành vào Việt Nam muộn hơn chính điều này làm cho việc truyền đạo của Tin Lành gặp nhiều khó khăn khi phải “cạnh tranh” với các tôn giáo lớn đã tồn tại ở Việt Nam trong nhiều thế kỷ như Phật giáo và Công giáo.
Trong hệ thống tôn giáo Việt Nam, ngoài những tôn giáo lớn du nhập từ bên ngoài, nước ta cũng có một số tôn giáo nội sinh, trong đó có Đạo Cao Đài và Đạo Hoà Hảo. Ra đời trong bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, đây là giai đoạn Việt Nam rơi vào khủng hoảng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đời sống của nhân dân lầm than, cực khổ, không lối thoát, đặc biệt là khu vực phía Nam. Điều này làm cho một bộ 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phận nhân dân mong ước có một chỗ dựa hư ảo về mặt tinh thần để chốn tránh hiện thực. Sự ra đời của Đạo Cao Đài và Đạo Hoà Hảo cũng như một số đạo khác đã đáp ứng được nhu cầu đó của một bộ phận nhân dân.
Từ những trình bày trên có thể khái quát đặc điểm về tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt Nam. Thứ nhất, tính khoan dung, hoà nhi bất đồng đối với tín ngưỡng, tôn giáo Đây là một trong những đặc điểm thể hiện tính cởi mở khi tiếp nhận các tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt Nam. Các tôn giáo vào Việt Nam nếu phù hợp đều được người Việt Nam tiếp nhận một cách thận trọng, không xô bồ, điều này đã thể hiện tính hòa đồng, đan xen, khoan dung tôn giáo của người Việt Nam. Đây là một nguyên nhân khiến cho nước ta lắm tôn giáo, nhiều tín ngưỡng nhưng lại tránh được những xung đột, đối đầu dẫn đến chiến tranh tôn giáo như đã từng diễn ra trong lịch sử và ở nhiều nước hiện nay.
Ở châu Âu, có tôn giáo thống trị xã hội nhiều thế kỷ, thần quyền trên thế quyền, giáo hội trên nhà nước. Nhiều nước trên thế giới trong đó có châu Âu lấy một tôn giáo làm “Quốc giáo” như Kitô giáo hay Hồi giáo. Còn ở nước ta, tác giả Đỗ Quang Hưng cho rằng: “Trong lịch sử Việt Nam về mặt lý thuyết chưa bao giờ có một tôn giáo nào thực sự là Quốc giáo, kể cả trường hợp Phật giáo ở thế kỷ XI - XII. Sau này, dù Nho giáo có là rường cột tư tưởng - chính trị cho chế độ phong kiến, nhưng nó không hoàn toàn là một tôn giáo” [27, tr.
Vì vậy, nước ta cũng không có tôn giáo nào thống trị suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì vị trí của các tôn giáo cũng khác nhau, song lại tồn tại cùng nhau, chung sống hòa bình, chan hòa, nương tựa vào nhau để cùng tồn tại và phát triển. Thứ hai, quan niệm về tín ngưỡng, tôn giáo mang tính đa thần Đây là đặc điểm cơ bản trong tâm thức của người Việt Nam, đặc điểm này trước hết được xuất phát từ điều kiện và môi trường sống của người Việt Nam là nền kinh tế tiểu nông nghiệp gắn với thiên nhiên, phụ thuộc vào thiên nhiên. Những năm mưa thuận gió hòa, không có thiên tai dịch bệnh, mùa màng tươi tốt thì đời sống của người dân 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được ấm no.
Nếu gặp năm trời hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh, mất mùa thì đời sống nghèo khó. Cuộc sống phụ thuộc vào thiên nhiên vô cùng khó khăn, không lường trước được.