Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ GIÁO 1. ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ GIÁO 1. Điều kiện hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà giáo Hồ Chí Minh là nhà lãnh đạo tài ba, vị anh hùng của dân tộc. Hồ Chí Minh được nhân dân Việt Nam kính trọng, tin yêu và cả thế giới ngợi ca.
Cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh gắn liền với tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam. Tư tưởng của Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng về nhà giáo nói riêng được hình thành, phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội thế giới và Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đó là thời kỳ biến động với nhiều sự chuyển biến sâu sắc về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Bối cảnh lịch sử - xã hội thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà giáo.
Lịch sử thế giới có nhiều chuyển biến to lớn, phức tạp vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đó là thắng lợi của chủ nghĩa tư bản trên quy mô toàn thế giới đã tạo những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tiếp tục của nó. Từ việc nắm quyền kiểm soát chính quyền, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động, giai cấp tư sản có khả năng phát huy mọi tiềm lực để phát triển sản xuất, mở rộng quy mô hoạt động làm cho tư bản giàu lên nhanh chóng. Các thành tựu của khoa học kỹ thuật càng thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất và tập trung tư bản.
Vào những thập niên cuối thế kỷ XIX, lực lượng sản xuất đạt đến trình độ phát triển cao. Vai trò chủ đạo trong công nghiệp thuộc về công nghiệp 14 nặng, công nghiệp khai khoáng, luyện kim, chế tạo máy, sản xuất nguyên liệu hóa chất. Các ngành này được đầu tư lớn, đây cũng là nơi các phát minh khoa học kỹ thuật có đất sống và phát triển. Ngoài lĩnh vực khoa học kỹ thuật còn có những phát minh trên các lĩnh vực khác của đời sống như: sinh học học, y học, hóa học, vật lý học… Bên cạnh đó thì về văn học nghệ thuật ở thế kỷ XIX cũng phát triển rực rỡ, phản ánh những biến động sâu sắc trong xã hội.
Hai nền văn học tiêu biểu là Pháp và Nga. Ngoài ra thời kỳ này, âm nhạc, hội họa, kiến trúc cũng phát triển mạnh mẽ. Những điểm sáng trong nền văn minh thế giới, đã tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền giáo dục của các quốc gia trên giới nói chung, trong đó có Việt Nam. Các quốc gia cần xây dựng, đào tạo phát triển đội ngũ lao động có trình độ cao, phát triển được năng lực của bản thân, nắm bắt được những thành tựu của khoa học, kỹ thuật và văn minh tiên tiến của nhân loại.
Để làm được những điều đó thì chỉ có đội ngũ nhà giáo, những người sẽ đào tạo ra thế hệ trẻ tương lai của mọi dân tộc. Thế kỷ XIX là thế kỷ của đại công nghiệp cơ khí, cũng là thế kỷ thắng lợi hoàn toàn của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản thống trị cả thế giới thông qua độc quyền về sản xuất, thương mại, và hàng hải, thông qua hệ thống thuộc địa được thiết lập song song với quá trình phát triển của nó. Cuối thế kỷ XIX, các nước đế quốc biến hầu hết các nước ở nhỏ châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ - Latinh đã trở thành thuộc địa và phụ thuộc.
Chúng đặt ách áp bức dưới những hình thức khác nhau lên các nước thuộc địa, phụ thuộc; âm mưu là nhằm phá hủy mọi tiềm năng, truyền thống vốn có, trình độ văn minh, nền kinh tế, khiến các quốc gia này phụ thuộc vào đế quốc. Chính âm mưu và chính sách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc đã làm cho mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân, đế quốc ngày càng trở nên gay gắt, đồng thời thức tỉnh ý thức dân tộc và tinh thần đấu tranh của nhân dân lao động cùng khổ chống chủ nghĩa đế quốc. Trong 15 lúc các dân tộc bị áp bức đang sống cuộc đời tăm tối, thì tiếng súng của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, đã cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới. Có thể nói, Cách mạng Tháng Mười Nga là tấm gương vĩ đại, là bó đuốc soi đường trong đêm tối, là nguồn sức mạnh lớn lao làm thức tỉnh và thúc đẩy phong trào chống chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới, đặc biệt là ở châu Á điển hình là Trung Quốc, Nhật Bản, khu vực Đông Nam Á … và đã ảnh hưởng sâu sắc đến Việt Nam.
Thực tiễn đó là những điều kiện khách quan để chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành quyết chí tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, giải phóng những người lao động cùng khổ thoát khỏi kiếp nô lệ lầm than, làm sao cho dân có cái ăn, cái mặc, được học hành, nhận thức đấu tranh và thoát khỏi cuộc đời tối tăm. Ở Trung Quốc, đầu thế kỷ XX từ một nước phong kiến độc lập trở thành một nước phong kiến nửa thuộc địa. Thời bấy giờ khuynh hướng Duy Tân theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa phương Tây của Khang Hữu Vi (1858-1927) phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là trong giới trí thức. Phong trào đã đề cập đến tất cả các vấn đề từ chính trị, kinh tế, văn hóa giáo dục, cho đến quân sự.
Về giáo dục, phái Duy Tân đã đề ra các biện pháp để cải cách giáo dục, nhằm đào tạo ra đội ngũ nhân tài, nâng cao dân trí, bắt kịp với thời đại: Lập trường học ở khắp nơi, tổ chức học theo mô hình kiểu phương Tây, cử người đi du học ở nước ngoài; thay đổi nội dung học tập, cải cách chế độ thi cử; mở nhiều nhà in để in sách báo và dịch các loại sách để cho quần chúng có thể nắm được tri thức khoa học; … Tuy phong trào Duy Tân thất bại, nhưng nhân dân Trung Quốc được thức tỉnh tinh thần yêu nước, nó cũng điều kiện khách quan ảnh hưởng đến tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà giáo đặc biệt là nội dung đào tạo nhân tài của phái Duy Tân. Nhật Bản, cuộc Duy Tân Minh Trị (1866 – 1869) đã làm biến đổi xã hội Nhật Bản từ một nước nông nghiệp trở thành một nước tư bản với nền công 16 nghiệp phát triển cao, hiện đại. Đặc biệt trong đó phải kể đến chính sách cải cách về giáo dục. Năm 1871, Bộ giáo dục được thành lập theo mô hình phương Tây, chủ yếu theo mô hình của Pháp.
Năm 1872, chế độ giáo dục thống nhất được ban hành, việc đào tạo đội ngũ giáo viên được đặc biệt chú trọng. Chính quyền Minh Trị coi việc đào tạo đội ngũ giáo viên mang ý nghĩa sống còn đối với việc cải cách giáo dục, là yếu tố tiên quyết cho một nền giáo dục có chất lượng cao, gián tiếp phục vụ cho công cuộc cải cách trên các lĩnh vực khác nhau. Nhật Bản tích cực thực hiện những chủ trương, giải pháp có lợi cho việc xây dựng đội ngũ các nhà giáo người Nhật vừa đông đúc, vừa dạy giỏi. Nội dung, phương pháp giảng dạy và học tập cũng có những thay đổi căn bản.
Phương pháp dạy học, nhất là phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan (tranh ảnh, hình mẫu cụ thể…) được chú trọng. Lối học “tầm chương trích cú” bị phê phán; học gắn với đời sống, phát huy tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh được đề cao… Việc cải cách giáo dục thời Minh Trị ở Nhật Bản mang lại nhiều kết quả tốt đẹp. Nhờ vậy, mà Nhật Bản đã vươn lên sánh vai với các nước đế quốc. Chính thành công của đất nước “mặt trời mọc” trong nền giáo dục đã tác động và ảnh hưởng rất lớn đối với các nước trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam.
Đó là những kinh nghiệm quý báu để Hồ Chí Minh lĩnh hội, đúc kết trong tư tưởng của Người trên con đường cứu nước, trong đó có vấn đề về vai trò then chốt của đội ngũ giáo viên khi phát triển giáo dục và đào tạo. Như vậy, tất cả những đặc điểm và yêu cầu cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đã được Hồ Chí Minh phản ánh, tiếp thu qua lăng kính chủ quan của mình - một con người có tầm tri thức văn hóa uyên bác, hết lòng phụng sự nhân dân. Với tấm lòng ấy, Hồ Chí Minh đã trăn trở suy nghĩ phải làm bằng cách nào, con đường cách mạng nào để giải phóng dân tộc, đem lại độc lập cho nhân dân, xây dựng và phát triển đất nước. Hồ Chí Minh hiểu để đào tạo con người có trình độ chuyên môn, phẩm chất cách mạng thì phải có chiến 17 lược xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo, trí thức cho thế hệ mai sau, góp phần vào sự thành công của cách mạng Việt Nam: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc.
Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế” (Hồ Chí Minh, 2011e, tr. Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà giáo Cùng với tình hình chung của thế giới, ở Việt Nam từ tháng 09 năm 1858 thực dân Pháp chính thức xâm lược, biến Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Ngay sau khi xâm lược, chúng đã áp đặt bộ máy cai trị thực dân để bóc lột về kinh tế, áp bức về chính trị và nô dịch về văn hóa đối với dân tộc Việt Nam. Về kinh tế: Thực dân Pháp thực hiện duy trì quan hệ kinh tế nông nghiệp, và đẩy mạnh chính sách khai thác thuộc địa, áp dụng chính sách tô thuế nặng nề, bóc lột sức lao động, vơ vét tài nguyên, của cải của nhân dân ta.
Đẩy người dân lao động Việt Nam rơi vào cảnh khổ cực đến tận cùng; chúng kìm hãm sự phát triển kinh tế của người Việt, khuyến khích phát triển kinh tế tư bản Pháp, hạn chế tối đa sự phát triển của tư bản Việt Nam. Trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập (1945), Hồ Chí Minh viết: “Chúng bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân nghèo, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều …” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.