phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, danh mục các bảng, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương, 4 tiết. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NGUỒN LỰC CON NGƢỜI 1.1 Khái niệm con ngƣời, nguồn lực con ngƣời và phát huy nguồn lực con ngƣời 1.1 Khái niệm con người Suốt tiến trình phát triển lịch sử xã hội, con người không ngừng nhận thức và cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân. Thông qua quá trình đó, con người từng bước phát triển nhận thức về sự tồn tại, phát triển của chính mình. Trong thời kỳ cổ đại, người ta cho rằng con người cũng như các sinh thể vật chất khác đều do những nguyên tố cụ thể nào đó tạo ra như: nước, lửa, không khí.
Thời kỳ trung cổ người ta cho rằng, con người do một lực lượng siêu nhiên nào đó tạo ra, chẳng hạn: đạo Thiên Chúa cho rằng con người do Chúa sinh ra. Thời kỳ Phục hưng và Khai sáng được coi là bắt đầu một thời kỳ mới trong việc khám phá bản chất con người. Quan niệm về con người thời kỳ này thường gắn với con người cá nhân, khẳng định vai trò con người trong xã hội, hướng con người tới sự giải phóng khỏi Thần học, khỏi sự áp bức và nô dịch của giáo hội. Tuy nhiên, do ảnh hưởng bởi phương pháp siêu hình máy móc nên nhận thức về con người thời kỳ này còn nhiều hạn chế.
Sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đem đến phương pháp khoa học để làm sáng tỏ khái niệm “Con người”. Xuất phát từ thực tế sinh hoạt, lao động sản xuất, chủ nghĩa Mác cho rằng “Bản chất con người không phải là một cái gì trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”[48, tr. Bản chất của con người không phải trừu tượng mà rất hiện thực, không chỉ là tự nhiên mà còn là lịch sử; con người là một thực thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội, nhưng yếu tố xã hội mới là bản chất đích thực của con người.
Với ý thức của mình - điều khác biệt với con vật - con người không 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thu mình, thụ động trước hoàn cảnh mà luôn hoạt động, lao động, suy nghĩ, tìm tòi để cải tạo tự nhiên, làm tự nhiên phải biến đổi, phải phục vụ cho cuộc sống của họ. Như thế, bằng lao động và thông qua lao động, giao tiếp, con người đã làm biến đổi tự nhiên, xã hội và bản thân, trở thành chủ nhân của bản thân, của tự nhiên, xã hội. Con người không thể tồn tại được một khi tách khỏi xã hội. Chỉ trong xã hội thông qua lao động và ngôn ngữ, con người mới thỏa mãn được những nhu cầu trong cuộc sống và nâng cao được nhận thức về mình một cách đầy đủ hơn để từ đó hoàn thiện bản thân về mọi mặt.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác - Lênin, được vận dụng sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điểm cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh là gắn mục tiêu giải phóng dân tộc với giải phóng xã hội và giải phóng con người. Trong đó, vấn đề con người, chăm lo cho con người, phát huy nguồn lực con người để hướng đến giải phóng con người một cách triệt để là vấn đề được đặt lên hàng đầu, là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ tư tưởng, hành động của Người. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan niệm về con người được xây dựng trên nền tảng quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử.
Bản chất của con người được Hồ Chí Minh quan niệm là tổng hòa của các quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng. Người từng khẳng định: “Chữ Người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người” [60, tr.
Hồ Chí Minh không bao giờ xem xét con người một cách trừu tượng mà luôn luôn xuất phát từ con người hiện thực, cụ thể trong các quan hệ xã hội với nhiều bình diện, chiều cạnh khác nhau. Xuất phát từ những luận điểm đúng đắn đó, trong suốt quá trình lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người luôn tin vào sức mạnh của con người, hết lòng thương yêu con người, quý trọng con người, quan tâm bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con người. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không tồn tại như một phạm trù bản thể luận có tính trừu tượng hóa và khái quát hóa, mà được đề cập đến một cách cụ thể, đó là nhân dân Việt Nam, những con người lao động nghèo khổ bị áp bức cùng cực dưới ách thống trị của chế độ phong kiến, đế quốc; là dân tộc Việt Nam đang bị đô hộ bởi chủ nghĩa thực dân; và mở rộng hơn nữa là những “người nô lệ mất nước” và “người cùng khổ”. Tiếp thu quan điểm của Chủ Nghĩa Mác - Lênin cho rằng con người là một chỉnh thể thống nhất giữa yếu tố sinh vật và yếu tố xã hội, Hồ Chí Minh luôn quan niệm con người là một hệ thống cấu trúc bao gồm tổng hoà nhiều yếu tố hợp thành như: thể xác và tâm hồn, thể lực và trí tuệ, cái sinh vật và cái xã hội… “Con người ai cũng có chỗ hay chỗ dở, ai cũng có tính tốt tính xấu, có thiện có ác” [60, tr.
72], vấn đề là làm sao cho phần xấu mất dần đi, phần tốt nảy nở như hoa mùa xuân; con người ta sinh ra, ai cũng lớn lên, già đi rồi chết; người ta ai cũng muốn sung sướng, mạnh khoẻ… Cách quan niệm như thế cho phép Hồ Chí Minh đạt tới cái nhìn toàn diện về con người; là cơ sở để Người hiểu, cảm thông, lo lắng cho con người. Sau khi giải phóng dân tộc, bước vào thời kỳ xây dựng xã hội mới, con người được Hồ Chí Minh nói đến là con người toàn diện, con người mới “con người xã hội chủ nghĩa”. Khi xã hội càng phát triển, năng suất lao động cao, của cải dồi dào càng tạo điều kiện để chăm lo cho con người. Chính vì vậy, mục tiêu sau khi đất nước độc lập là phấn đấu chăm lo cho con người có đời sống vật chất đầy đủ, tinh thần ngày càng tốt.
Bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã nêu quan điểm: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa” [66]. Con người xã hội chủ nghĩa là con người phát triển toàn diện, hài hòa được từng bước hình thành trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa. Con người xã hội chủ nghĩa vừa là chủ thể trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa là sản phẩm của quá 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trình đó. Bởi vì, không thể có con người xã hội chủ nghĩa với đầy đủ phẩm chất của nó, khi mà chưa có xã hội xã hội chủ nghĩa và ngược lại.
Quan niệm về con người, coi con người là một thực thể thống nhất của “cái cá nhân” và “cái xã hội”, con người tồn tại trong mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân với cộng đồng, dân tộc, giai cấp, nhân loại; con người mới phát triển toàn diện cả thể chất lẫn tinh thần, đó chính là những luận điểm cơ bản, bao trùm trong tư tưởng, hành động vì con người của Hồ Chí Minh. Xuất phát từ những luận điểm đúng đắn đó, trong suốt quá trình lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh luôn tin ở dân, hết lòng thương yêu, quý trọng nhân dân, biết tổ chức và phát huy sức mạnh của nhân dân. Tư tưởng về con người của Người thông qua thực tiễn cách mạng của dân tộc đã trở thành một sức mạnh vật chất to lớn, là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng tất cả vì con người.2 Khái niệm nguồn lực con người Trước khi bàn đến khái niệm nguồn lực con người cần tìm hiểu nội hàm nguồn lực. Trong Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học không định nghĩa mục từ “nguồn lực”.
Theo Collins English - English Dictionary, khái niệm “Resource” (tương đương với từ “nguồn lực” trong tiếng Việt) được xác định bao gồm hai hàm nghĩa. Thứ nhất, nguồn lực được hiểu là các nguồn lực của một tổ chức hay một người là những nguyên vật liệu, tiền bạc và những gì mà nó, anh ta có và có thể sử dụng để thực hiện các chức năng một cách hợp thức. Thứ hai, nguồn lực được hiểu là các nguồn lực của một quốc gia là những gì mà nó có và có thể sử dụng để gia tăng sự giàu có của nó. Như vậy, có thể hiểu nguồn lực là những gì mà một tổ chức hay cá nhân sở hữu và có thể sử dụng để làm gia tăng giá trị (chẳng hạn như sự giàu 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có) cho quốc gia, tổ chức hay cá nhân ấy.
Với cách hiểu nguồn lực là nguồn mang đến sức mạnh, sự giàu có, thịnh vượng cho một tổ chức, các nhân hay một quốc gia, khái niệm nguồn lực có lúc được dùng thay thế nhau với khái niệm vốn: “nguồn lực con người” - “vốn con người”, “nguồn lực trí tuệ” - “vốn trí tuệ”,… Theo cách hiểu trên thì nguồn lực con người là khái niệm dùng để chỉ con người với tư cách là cội nguồn đem đến sức mạnh, sự giàu có, thịnh vượng cho một quốc gia. Như vậy nghiên cứu nguồn lực con người là nghiên cứu con người trên phương diện là một nguồn lực của quốc gia. Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn lực con người hay nguồn nhân lực. Theo tác giả Nguyễn Văn Phúc trong công trình “Khai thác và phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam” [74], nguồn lực con người được hiểu là tài nguyên con người hay vốn con người, tức xem xét nguồn lực con người như một dạng tài nguyên đặc biệt.
“Tài nguyên con người” là một loại tài nguyên được hàm chứa trong con người. Đó chính là năng lực của con người, với tư cách là những cá nhân cũng như con người nói chung, trong việc thực hiện những hoạt động hữu ích cho xã hội và chính bản thân con người.