Chương 1. Điều kiện lịch sử, cơ sở hình thành và quá trình phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về kháng chiến toàn diện giai đoạn 1945-1954. Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về kháng chiến toàn diện giai đoạn 1945-1954. Giá trị thực tiễn và lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh về kháng chiến toàn diện giai đoạn 1945-1954.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ KHÁNG CHIẾN TOÀN DIỆN GIAI ĐOẠN 1945-1954 1. Điều kiện lịch sử và cơ sở hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về kháng chiến toàn diện. Điều kiện lịch sử Từ năm 1858, thực dân Pháp phát động cuộc chiến tranh xâm lược, thôn tính lãnh thổ Việt Nam. Vấp phải sự chống trả quyết liệt của nhân dân ta, thực dân Pháp không thể thực hiện được chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh nên phải sau hơn một phần tư thế kỷ, đến năm 1884, với Hiệp ước Pa-tơ-nốt, thực dân Pháp mới cơ bản chiếm được Việt Nam.
Các phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân ta dưới ngọn cờ phong kiến bị đàn áp và tổn thất nặng nề. Sự thất bại của các phong trào đó bộc lộ sự yếu kém của lực lượng lãnh đạo, của đường lối đấu tranh. Biểu hiện cụ thể nhất của điều này, chính là việc trong khi dựng cờ cứu nước, những sĩ phu yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX vẫn giương cao ngọn cờ phong kiến, theo đuổi tư tưởng phong kiến đã lỗi thời và lạc hậu. nên thất bại là điều không thể tránh khỏi.
Sau khi bình định xong các phong trào đấu tranh của nhân dân ta, thực dân Pháp tiến hành quá trình khai thác thuộc địa nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt, cho vay nặng lãi, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá của chính quốc. Các chương trình khai thác thuộc địa ấy đã có tác động rất lớn đối với Việt Nam, làm cho nền kinh tế nước ta vốn đã lạc hậu, trì trệ, ngày càng trở nên què quặt, lệ thuộc vào kinh tế chính quốc. Việt Nam từ một xã hội phong kiến đơn thuần với hai giai cấp cơ bản, dưới ách thống trị của thực dân Pháp, đã trở thành một xã hội nửa thuộc địa nửa phong kiến, với sự xuất 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiện của các tầng lớp và giai cấp mới. Các mâu thuẫn trong xã hội ngày càng diễn ra gay gắt, trong đó, nổi bật lên là mâu thuẫn dân tộc - mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với bọn đế quốc thực dân xâm lược.
Một hệ quả khác của quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, chính là sự xuất hiện của những tầng lớp, giai cấp xã hội mới, cũng như sự “du nhập” của các luồng tư tưởng dân chủ tư sản của cách mạng tư sản Pháp (1789), của phong trào Duy Tân ở Nhật Bản (1868), của cuộc vận động Duy Tân (1898) và cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc. vào nước ta trong những thập niên đầu của thế kỷ XX. Điều này đã dẫn tới sự hình thành và phát triển của các phong trào đấu tranh cách mạng chống Pháp mới, tiêu biểu là phong trào Đông Du (1905-1908), Đông Kinh nghĩa thục (1907), cuộc vận động Duy tân và chống thuế ở Trung Kỳ (1908), Việt Nam Quang phục hội (1912), phong trào yêu nước của các tầng lớp tiểu tư sản thành thị,. Mặc dù phong trào dân tộc theo khuynh hướng cách mạng tư sản diễn ra sôi nổi, nhưng cuối cùng đều bị thực dân Pháp đàn áp và thất bại.
Nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện lịch sử hạn chế, lãnh đạo các phong trào đều chưa nhận rõ được kẻ thù, chưa nhận rõ được nhiệm vụ cơ bản và đề ra được một đường lối đấu tranh thực sự đúng đắn; chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc. Sự thất bại của các phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân nước ta lúc bấy giờ đã làm cho cách mạng Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước, “đen tối như không có đường ra”. Một yêu cầu cấp bách được lịch sử đặt ra lúc bấy giờ là cần phải có một đường lối cứu nước, đấu tranh đúng đắn, phù hợp hơn, giải quyết được vấn đề cấp bách nhất mà xã hội nước ta lúc bấy giờ đặt ra: đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp - một kẻ thù lớn mạnh hơn chúng ta rất nhiều lần. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đáp ứng yêu cầu lịch sử, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã xuất hiện.
Thông qua quá trình bôn ba tìm đường cứu nước của mình, Người đã tìm ra và truyền bá con đường cách mạng vô sản vào Việt Nam, từng bước tập hợp và lãnh đạo nhân dân ta đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh tên thật là Nguyễn Sinh Cung, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 tại Nam Đàn, Nghệ An trong một gia đình trí thức yêu nước. Ngay từ khi còn rất nhỏ, Người đã được giáo dục về truyền thống dân tộc, tinh thần đấu tranh của nhân dân… lại lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược và đô hộ, nhân dân phải sống trong cảnh cơ cực, bần hàn nên Người sớm có hoài bão cứu nước, cứu dân ra khỏi cảnh nô lệ. Năm 1911, Người ra đi tìm đường cứu nước, bôn ba khắp các châu lục, các quốc gia khác nhau để tìm hiểu các cuộc cách mạng trên thế giới, với mong muốn tìm ra một con đường phù hợp nhất, tiến bộ nhất về cứu nước cứu dân.
Năm 1920, Người tìm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin từ khi đọc được bản sơ thảo lần thứ nhất “Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin. Thông qua đó, Người đã tìm ra con đường cứu nước chân chính cho sự nghiệp cứu dân, giải phóng dân tộc. Người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, tán thành tham gia Quốc tế III… Những sự kiện đó đánh dấu sự chuyển biến quan trọng về chất lượng trong tư tưởng của Người: Từ một người yêu nước trở thành một người cộng sản, từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai cấp… Trong những năm 20 của thế kỷ XX, Người tiếp tục nghiên cứu về chủ nghĩa Mác - Lênin tại Liên Xô, Trung Quốc đồng thời tích cực chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của một chính đảng vô sản đầu tiên ở nước ta. Mùa xuân năm 1930, Người đứng ra thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng - sự cụ thể hóa con đường cứu nước, giải phóng dân tộc ta.
Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ muốn tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, nhất thiết phải huy động sức mạnh của toàn thể dân tộc, phải tập hợp được khối đoàn kết toàn dân rộng lớn lấy liên minh công nông làm nòng cốt, phấn đấu vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân. Đường lối ấy đã chấm dứt sự khủng hoảng đường lối cứu nước từ khi phong trào đấu tranh chống Pháp của sĩ phu phong kiến, trí thức tiểu tư sản và tư sản dân tộc, đánh dấu bước đầu sự thắng lợi của con đường cách mạng vô sản ở nước ta. Năm 1941, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước ở hải ngoại, Người trở về Việt Nam, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước. Tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh lãnh đạo cả nước đứng lên tiến hành Cách mạng tháng Tám, lật đổ ách thống trị của phát xít Nhật, thực dân Pháp và bè lũ phong kiến tay sai, thành lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.
Thắng lợi vĩ đại ấy đã đưa nước ta từ một nước nửa thuộc địa nửa phong kiến trở thành nước độc lập và tự do, tiến bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do; nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Tuy vừa mới ra đời, nhưng gần như ngay lập tức, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thách thức. Nạn đói khủng khiếp, hậu quả nặng nề của chính sách vơ vét, bóc lột thuộc địa của đế quốc, phát xít Nhật - Pháp diễn ra từ đầu năm 1945 chưa chấm dứt. Vùng Bắc Bộ xảy ra nạn lụt lớn và sau đó là hạn hán nghiêm trọng làm cho hơn 50% ruộng đất bị hoang hoá.
Mọi ngành sản xuất đình đốn, các kho tàng trống rỗng, hàng hoá trở nên hết sức khan hiếm, giá cả tăng vọt. Tình hình tài chính vô cùng khó khăn, kho bạc chỉ có hơn 1,2 triệu đồng, 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong đó quá nửa là tiền rách nát, không tiêu được. Ngân hàng Đông Dương vẫn nằm trong tay tư bản Pháp. Khi quân Tưởng kéo vào lại tung tiền quốc tệ và quan kim ra thị trường, gây rối loạn tài chính.
Di sản văn hoá lạc hậu do chế độ thực dân, phong kiến hết sức nặng nề: hơn 95% số dân nước ta bị mù chữ; các tệ nạn xã hội như thuốc phiện, nghiện rượu, nạn cờ bạc, trộm cắp, mê tín dị đoan. cần tập trung sức giải quyết. Bên cạnh những khó khăn trên, nước ta lại bị đe dọa bởi nhiều thế lực đế quốc và phản động. Theo thỏa thuận của các nước lớn trong phe Đồng minh sau khi thắng trận, việc giải giáp quân Nhật ở Bắc Đông Dương giao cho Trung Quốc (Tưởng Giới Thạch); ở Nam Đông Dương giao cho Anh.
Vì vậy, ở miền Bắc, 20 vạn quân Tưởng tràn vào phía bắc vĩ tuyến 16 nước ta với danh nghĩa tước vũ khí quân đội Nhật, nhưng thực chất là thi hành âm mưu thâm độc nhằm tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá Mặt trận Việt Minh và lật đổ chính quyền nhân dân, lập chính phủ bù nhìn làm tay sai cho chúng. Ở miền Nam, từ phía nam vĩ tuyến 16, quân Anh kéo vào để tước vũ khí của quân Nhật, nhưng lại mở đường cho thực dân Pháp quay trở lại cướp nước ta một lần nữa (kể cả quân Pháp bám theo quân Anh, số quân này lên tới gần 100. Các tổ chức phản động như Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách), Đại Việt… núp bóng đế quốc cũng ráo diết hoạt động chống phá cách mạng.