phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Nội dung của Luận văn gồm 2 chương 4 tiết. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1. TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC – NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN 1.
Những tiền đề cho sự hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc 1. Tiền đề kinh tế - xã hội cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc 1. Điều kiện lịch sử - xã hội thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thế giới có nhiều chuyển biến chuẩn bị cho một bước ngoặt trong tiến trình phát triển của nhân loại, đó là: chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn độc quyền – chủ nghĩa đế quốc, công cuộc duy tân của Nhật Bản, cuộc vận động cải cách ở Trung Quốc dẫn đến cách mạng Tân Hợi năm (1911)… Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn độc quyền – chủ nghĩa đế quốc. Các nước tư bản đế quốc, bên trong thì tăng cường bóc lột nhân dân lao động, bên ngoài thì bành trướng xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa.
Phần lớn các nước châu Á, châu Phi và Mỹ latinh đều trở thành thuộc địa hoặc phụ thuộc. Nhân dân các nước thuộc địa bị tước hết mọi giá trị văn hóa tinh thần, quyền lợi kinh tế và địa vị xã hội. Sự thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc làm cho đời sống nhân dân lao động ở các nước thuộc địa trở nên cùng cực. Cùng với mâu thuẫn bên trong xã hội tư bản (mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản), chủ nghĩa đế quốc còn làm phát sinh thêm mâu thuẫn mới – Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân.
Mâu thuẫn này đã trở thành một trong những mâu thuẫn cơ bản của thời đại đế quốc chủ nghĩa. Mâu thuẫn đó là điều kiện khách quan để phong trào cách mạng ở các nước thộc địa gắn bó chặt chẽ với phong trào cách mạng quốc tế, đặc biệt là phong 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trào cách mạng ở chính quốc. Bị áp bức và bóc lột nặng nề, nhân dân các dân tộc thuộc địa vùng lên đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc để giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do. Tuy nhiên, cho đến chiến tranh thế giới thứ nhất, các phong trào giải phóng dân tộc đều thất bại.
Trong lúc các dân tộc bị áp bức đang sống cuộc đời tăm tối thì “tiếng sấm Cách mạng Tháng Mười Nga đã vang dội làm chấn động toàn thể địa cầu” [59, tr.Được cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 cổ vũ, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ trên khắp thế giới, đặc biệt là châu Á mà điển hình là Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Inđônêxia…Bão táp cách mạng với phương Đông thức tỉnh đã làm rung chuyển hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Trong bối cảnh ấy, Lênin (1870 - 1924) đã phân tích cụ thể tình hình, phát triển chủ nghĩa Mác trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Lênin đã nghiên cứu những đặc điểm của chủ nghĩa đế quốc, và đi đến kết luận: cách mạng có thể thắng lợi trong một số nước, thậm chí trong một nước, ở đó tập trung mâu thuẫn và là chỗ yếu nhất trong sợi dây chuyền của các nước đế quốc chủ nghĩa; đồng thời nêu lên nguyên lý về cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc. Thực tiễn chứng minh lý luận của Lênin là đúng đắn với thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga.
Thắng lợi đó là nguồn cổ vũ lớn lao đối với phong trào cách mạng thế giới, nhất là phong trào giải phóng dân tộc các nước thuộc địa. Nhật Bản trước năm 1868 là một nước phong kiến phương Đông, giống như Việt Nam trước 1858. Cũng như Việt Nam, vào giữa thế kỷ XIX, Nhật bị các cường quốc phương Tây tiến công xâm lược. Nhưng Nhật Bản, một mặt nhờ có quan hệ tư bản chủ nghĩa trong kinh tế và xã hội đã nở mầm rồi, mặt khác nhờ có tầng lớp lãnh đạo sớm có ý chí kiên quyết Duy tân, sớm tỉnh ngộ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trước họa ngoại xâm Âu – Mỹ, cho nên Nhật Bản đã kịp thời Duy tân phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa.
Trung Quốc ở gần Việt Nam nhất, các biến cố chính trị, tư tưởng lớn ở Trung Quốc đều có tiếng dội vào Việt Nam. Vào đầu thế kỷ XX, Trung Quốc từ một nước phong kiến độc lập trở thành một nước phong kiến nửa thuộc địa. Triều đình mãn thanh vừa tăng cường đàn áp cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Quốc, vừa nhượng bộ với các nước phương Tây. Đầu thế kỷ XX, tư tưởng Duy tân, dân chủ của phương Tây vào Việt Nam qua sách vở Trung Quốc, qua con đường sĩ phu nho học yêu nước.Những “tân thư”, “tân văn” Trung Quốc đã bắt đầu xâm nhập vào nước ta từ những năm 90 của thế kỷ XIX.
Tóm lại, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, hoàn cảnh lịch sử thế giới có nhiều yếu tố tác động mạnh mẽ đến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc: chủ nghĩa tư bản phát triển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, thuộc địa đã trở thành hệ thống trên toàn thế giới. Những biến động lịch sử to lớn này có ảnh hưởng tích cực đến quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc. Điều kiện lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX *Xã hội Việt Nam dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn lùi dần từng bước rồi đi đến đầu hàng. Nước ta từ một nước phong kiến độc lập trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến.
Tính chất của xã hội thuộc địa, nửa phong kiến được biểu hiện trên các mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, vv… Về kinh tế: thực dân Pháp thi hành chính sách độc quyền về kinh tế, kìm hãm nền kinh tế Việt Nam trong tình trạng lạc hậu. Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế nước ta lúc bấy giờ là sự đan xen, tồn tại các yếu tố của nền kinh tế truyền thống mang tính chất phong kiến với các yếu tố của nền kinh tế phụ 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuộc mang tính chất tư bản chủ nghĩa. Những yếu tố vật chất đó đã tạo điều kiện cho các trào lưu tư tưởng mới ở bên ngoài xâm nhập vào nước ta làm biến đổi ý thức tư tưởng của dân tộc ta trong tiến trình phát triển của dân tộc. Về chính trị: thực dân Pháp thi hành chính sách “chia để trị” nhằm làm suy yếu lực lượng dân tộc Việt Nam.
Chúng chia nước ta ra làm ba kỳ, với ba chế độ chính trị khác nhau. Bắc kỳ và Trung kỳ là xứ “bảo hộ” vẫn giữ lại chính quyền phong kiến về “hình thức”; Nam kỳ là chế độ thuộc địa, với thủ đoạn này thực dân Pháp nhằm xóa tên tên Việt Nam trên bản đồ thế giới. Về văn hóa: thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hóa “nô dịch” với thủ đoạn phát triển tôn giáo, mê tín dị đoan để mê hoặc nhân dân, ngoài ra chúng còn ra sức ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa dân chủ tiến bộ Pháp vào Việt Nam. Tình hình đó đã dẫn tới xuất hiện hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc; mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam, chủ yếu là giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến, trong đó mâu thuẫn gay gắt nhất là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc.
Giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc lúc này là yêu cầu bức thiết của dân tộc. Hậu quả của chính sách thống trị của thực dân Pháp không chỉ làm phân hóa các giai cấp vốn có trong xã hội Việt Nam như giai cấp địa chủ, giai cấp nông dân, mà còn làm xuất hiện thêm những giai cấp mới như: giai cấp tư sản, giai cấp tiểu tư sản và giai cấp công nhân. Giai cấp địa chủ phong kiến, là giai cấp giữ vai trò thống trị trong xã hội phong kiến, nhưng dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến thì mất dần vai trò thống trị và do sự tác động của điều kiện kinh tế - xã hội làm cho giai cấp này phân hóa khá sâu sắc. Thứ nhất, đại bộ phận địa chủ phong kiến ý thức rằng giai cấp mình mất vai trò lịch sử, bộ phận này câu kết chặt chẽ với thực dân 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Pháp, ra sức bóc lột nhân dân lao động, là đối tượng cần phải đánh đổ.
Thứ hai, bộ phận địa chủ, quan lại có tinh thần yêu nước, bất hợp tác với thực dân Pháp, phản đối triều đình đầu hàng. Thứ ba, khi thực dân Pháp xâm lược, dưới sự tác động của xã hội, tầng lớp sĩ phu yêu nước xuất thân từ nền nho học cũng bị phân hóa: Một là, một bộ phận chủ trương “ẩn dật”; hai là, bộ phận phản động, sẵn sàng vì lợi ích bản thân nên theo thực dân Pháp, đi ngược lại lợi ích dân tộc; ba là, các nhà nho vì lợi ích dân tộc sẵn sàng từ bỏ lợi ích giai cấp, đứng về phía lợi ích dân tộc đứng lên chống thực dân, phong kiến, đi tìm con đường cách mạng mới cho dân tộc. Lực lượng sĩ phu này là lực lượng căn bản trong quá trình “tư sản hóa” trong cuộc vận động giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản. Do đó cuộc vận động giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản không phải do giai cấp tư sản lãnh đạo mà do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo, cho nên nó quyết định đến nội dung, tính chất cuộc cách mạng dân chủ tư sản ở Việt Nam.
Giai cấp nông dân Việt Nam chiếm trên 90 % dân số, họ bị đế quốc phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề. Chính sách của thực dân Pháp và phong kiến làm cho nông dân Việt Nam bị phá sản và nghèo đói. Dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, nông dân Việt Nam ngày càng đi vào con đường “vô sản hóa” không có lối ra.