phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Viết tắt, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 11 tiết. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN CẦM QUYỀN 1. Một số vấn đề lý luận về đảng chính trị, đảng cầm quyền 1. Đảng chính trị (political party) Trong lịch sử, sự ra đời của đảng chính trị (ĐCT) gắn liền với các cuộc đấu tranh giai cấp và sự hình thành nhà nước.
Điều đó có nghĩa là, chỉ khi cuộc đấu tranh giai cấp phát triển đến giai đoạn cao trong đấu tranh chính trị, đảng chính trị mới xuất hiện. Và, đương nhiên nó cũng chỉ tồn tại trong điều kiện xã hội còn giai cấp. Cùng với sự phát triển của đời sống xã hội, ĐCT ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong hệ thống tổ chức quyền lực, thực hiện các hoạt động tập hợp, tổ chức lực lượng những người cùng chính kiến, quan điểm để đấu tranh vì mục tiêu giai cấp, giành quyền lực nhà nước và sử dụng quyền lực đó cho các lợi ích của giai cấp. Ngày nay, các đảng chính trị phát triển với nhiều hình thức, ở khắp các quốc gia trên thế giới.
Tương ứng với cơ cấu giai cấp của nó, các đảng chính trị có thể là đảng tư sản, đảng vô sản, đảng nông dân, đảng địa chủ, đảng tiểu tư sản, cũng có thể là liên minh giai cấp (giữa tư sản và địa chủ…). Khái niệm ĐCT, tùy vào những cách tiếp cận khác nhau, có những quan niệm khác nhau. Nhà Đảng học người Pháp M. Duverger, tiếp cận từ góc độ tranh cử, giành chính quyền, cho rằng đảng chính trị là tổ chức của những người tự nguyện, được lập ra để tranh cử vào các cơ quan công quyền [54; tr.
Tác giả cuốn Từ điển Chính quyền và chính trị Hoa Kỳ, Jay M. Shafrits tiếp cận từ góc độ quyền lực công, cho rằng ĐCT là tổ chức tìm cách nắm quyền lực chính trị bằng cách bầu thành viên của mình vào các cơ quan nhà nước, nhờ đó tư tưởng chính trị của họ được phản ánh trong chính sách công cộng [54; tr. Từ điển Bách khoa Triết học Liên Xô, tiếp cận từ góc độ giai cấp, định nghĩa: ĐCT là một tổ chức chính trị thể hiện những lợi ích của một giai cấp, hay một tổ chức xã hội, liên kết những đại diện ưu tú nhất của giai cấp để lãnh đạo giai cấp đạt tới mục đích, lý tưởng nhất định. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đại từ điển tiếng Việt (1998), Nxb.
Văn hóa - Thông tin: “Đảng là một nhóm người kết lại với nhau để hoạt động với những mục đích nhất định; là tổ chức chính trị đại diện và đấu tranh vì quyền lợi của một giai cấp, một tầng lớp xã hội” [83; tr. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin luôn khẳng định ĐCT là đội tiên phong của một giai cấp (hay một tầng lớp) nào đó, được tổ chức dựa trên nền tảng hệ tư tưởng nhất định, hoạt động theo điều lệ, cương lĩnh, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng xác định. Trong xã hội hiện đại, tương ứng với cơ cấu giai cấp, có thể có mô hình một đảng, hai đảng hoặc đa đảng, tuy nhiên về thực chất, ĐCT luôn mang bản chất giai cấp. Chính vì vậy, khi đánh giá về ĐCT, không nên chỉ căn cứ vào tên gọi hay cương lĩnh chính trị của nó mà phải nghiên cứu hành động thực tế của các đảng.
Như Lênin đã chỉ rõ: “Để nhận rõ được cuộc đấu tranh của các đảng, thì không nên tin ở lời nói, mà nên nghiên cứu lịch sử thực sự của các đảng, nghiên cứu chủ yếu là việc họ làm, chứ không phải những lời nói về bản thân họ, xem họ giải quyết các vấn đề chính trị như thế nào, xem thái độ họ như thế nào trong những vấn đề có liên quan đến lợi ích thiết thân của các giai cấp khác nhau trong xã hội: địa chủ, tư bản, nông dân, công nhân,…” [112; tr. ĐCT là một dạng đặc biệt của tổ chức xã hội. Nó khác với các hiệp hội, liên đoàn hay các nghiệp đoàn xã hội ở cách thức tổ chức và đặc biệt là cách thức hoạt động và mục tiêu đậm tính chính trị - đoạt, sử dụng quyền lực chính trị, tập trung ở quyền lực nhà nước. Trong xã hội đương đại, ĐCT không chỉ đơn thuần đấu tranh để tham gia vào việc thể hiện các quan điểm chính trị mà còn đấu tranh để giành quyền đại diện cho người dân, trước hết trong cơ quan lập pháp, quốc hội.
Thông thường, các ĐCT đều giành quyền lực thông qua việc bỏ phiếu của người dân. Trách nhiệm của ĐCT đối với người dân thể hiện qua việc thực hiện các cam kết mà ĐCT đã đưa ra trong chiến dịch tranh cử. chí của người bỏ phiếu có ý nghĩa rất quan trọng đối với một ĐCT. Cũng với ý nghĩa này, có thể xem chính trị đảng phái là cơ cấu chính trị trong đó nhiều đảng tranh giành quyền lãnh đạo chính quyền nhà nước một cách hòa bình với nhau thông qua bầu cử.
Trong các nước tư sản, hình thái chủ yếu của chính trị đảng phái là có chế độ Nội các Nghị viện và chế độ Tổng thống. Để bảo đảm cho Quốc hội 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và các Đảng được điều hành ổn định, điều quan trọng là sự bảo đảm tự do về chính trị, ngôn luận, lập hội, bầu cử công bằng và giảm bớt những căng thẳng trong nội bộ xã hội. Các ĐCT luôn là trung tâm cho các cuộc thảo luận và tranh luận về việc đổi mới nền chính trị cũng như thực hiện các thay đổi chính trị. Các lợi ích cho chính thể sẽ được tìm thấy qua các quyết sách sáng suốt của ĐCT cầm quyền.
Những lợi ích như vậy, không chỉ tìm thấy trong ĐCQ mà còn ở trong các các ĐCT đối lập. Theo quan niệm của các nhà tư tưởng phương Tây, trong một thể chế dân chủ, đảng đối lập thường có chức năng như là một “cơ quan giám sát” đối với các chính sách của chính phủ hoặc cho các lựa chọn chính trị trong tương lai. Các ĐCT đối lập thường là đối thủ đáng ngại cho ĐCQ. Chính vì vậy, sự tồn tại của các đảng đối lập là hết sức cần thiết trong một thể chế dân chủ.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra một quan niệm chung về ĐCT như sau: ĐCT là tổ chức chính trị bao gồm những người tự nguyện, có cùng chính kiến, đại diện và bảo vệ lợi ích của một giai cấp, một tầng lớp xã hội, hoạt động chủ yếu vì mục tiêu giành quyền lực nhà nước và sử dụng quyền lực đó nhằm thực hiện lý tưởng của giai cấp. Trong các nền chính trị đa đảng, tuỳ theo tương quan lực lượng và năng lực chủ quan của mỗi đảng, các ĐCT có thể là ĐCQ, liên minh cầm quyền hoặc ở vị trí đối lập (không cầm quyền), thậm chí ở vị trí bất hợp pháp. Để thực hiện mục tiêu của mình, ĐCT phải thực hiện các hoạt động theo chức năng là tập hợp, giáo dục cử tri, người dân tham gia vào đời sống chính trị; lựa chọn để cung cấp nguồn nhân lực cho bộ máy chính quyền nhà nước và hoạch định đường lối, chính sách quốc gia nhằm duy trì sự thống trị về chính trị và thực hiện lợi ích của giai cấp. ĐCT là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị.
Tuy nhiên, quyền lực chính trị của ĐCT xét ở góc độ nào đó chỉ là “quyền lực tư” của giai cấp, nhóm xã hội, không phải là “quyền lực công”, không phải là quyền lực nhà nước. Chừng nào ĐCT trở thành ĐCQ thì quyền lực của nó được chuyển hóa thành “quyền lực công” hay quyền lực nhà nước và có tính quyết định đối với toàn xã hội. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ĐCT là bộ phận tích cực, được tổ chức tốt hơn của một giai cấp hay một tầng lớp xã hội nào đó. ĐCT thực hiện vai trò lãnh đạo giai cấp hoặc tầng lớp đó, theo đuổi những mục tiêu nhất định và cố gắng thực hiện hóa những mục tiêu nhất định và cố gắng thực hiện hóa những mục tiêu đó bằng những chính sách công sau khi đã giành được quyền lực nhà nước, hoặc thông qua các biện pháp gây ảnh hưởng tới xã hội.
Các hình thức ĐCT xuất hiện ở phương Tây vào cuối thế kỷ XVIII và phát triển mạnh mẽ trong suốt thế kỷ XIX, cùng với sự phát triển của nền dân chủ tư sản. Bước sang thế kỷ XX, các đảng chính trị xuất hiện hàng loạt ở các nước trên thế giới, kể cả châu ở châu Phi và châu Á. Tùy thuộc cách tiết cận khác nhau mà người ta có thể đưa ra các định nghĩa khác nhau về ĐCT. Nhưng nhìn chung, chúng ta có thể thấy một số đặc trưng nổi bật của ĐCT như sau: - Là tổ chức chính trị cao nhất đại diện cho một giai cấp, một tầng lớp nào đó.
- Là tổ chức của những người đồng chính kiến, quan điểm, mà trước hết là về các chính sách công. - Là các nhóm chính trị được tổ chức chủ yếu nhằm mục tiêu giành quyền lực nhà nước và sử dụng quyền lực đó cho tôn chỉ, lợi ích của đảng. Khi giành được quyền lực nhà nước, đảng đó trở thành ĐCQ. Đảng cầm quyền (Ruling party) Đảng cầm quyền (ĐCQ) là khái niệm chỉ vị thế, tư cách chính trị cầm quyền của ĐCT sau khi giành được chính quyền nhà nước, thực hiện sự lãnh đạo chủ yếu bằng quyền lực của bộ máy công quyền để phục vụ cho lợi ích giai cấp, của nhân dân.
ĐCQ là khái niệm dùng để phân biệt về vị thế, tư cách chính đảng của ĐCT đã nắm được chính quyền so với thời kỳ trước, khi chưa nắm chính quyền và so với các ĐCT khác chưa hoặc không nắm được chính quyền. Khái niệm ĐCQ được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng (cầm quyền tuyệt đối, nắm được toàn bộ nhà nước) là sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của đảng đối với toàn xã hội, làm cho xã hội vận động theo quỹ đạo mà ĐCT mong muốn; theo nghĩa hẹp (cầm quyền không tuyệt đối, chỉ nắm được cơ quan hành pháp) là ĐCT trực tiếp nắm giữ được cơ quan hành pháp để duy trì, áp đặt ý đồ chính trị của Đảng đối với xã hội. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.