phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm hai chương, năm tiết. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA DÂN CHỦ 1. Một số vấn đề lý luận chung về dân chủ và quy chế dân dân chủ ở cơ sở 1. Khái niệm dân chủ và bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa - Khái niệm dân chủ Thuật ngữ dân chủ ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VII - VI trước công nguyên.
Theo nhà triết học Hy Lạp cổ đại Aristote (384 - 322 Tr.CN) thì Solon (khoảng 638 - 559 Tr.CN) là người đầu tiên đặt nền tảng cho nguyên lý dân chủ. Hiểu theo từ nguyên, dân chủ, trong tiếng Hy Lạp cổ, là Demokratos. Đó là một từ ghép bao gồm hai thành tố: Demos (dân) và kratos (cai trị). Như vậy theo nghĩa gốc của thuật ngữ, dân chủ là quyền làm chủ của nhân dân.
Đến thế kỷ XVIII, người Anh đã dựa vào ngôn ngữ Hy Lạp cổ để đưa ra thuật ngữ “democracy”, có nghĩa là “chính thể dân chủ”, một trong những hình thức chính quyền với đặc trưng là chính quyền nhà nước phải thừa nhận các quyền dân chủ, tự do và bình đẳng của công dân. Như vậy, dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực nhà nước, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do. Trong tiếng Việt, thuật ngữ dân chủ có ba hàm nghĩa: chỉ chế độ xã hội; chỉ quyền của người dân (tương đương nghĩa gốc) và chỉ một phương thức công tác, phong cách quản lý, lãnh đạo [75, tr. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, dân chủ là có quyền tham gia, bàn bạc vào công việc chung, được tôn trọng quyền lợi của từng thành viên trong xã hội.
Dân chủ là khái niệm để chỉ chế độ chính trị theo đó quyền làm chủ thuộc về nhân dân. Ban đầu, khái niệm dân chủ được xem xét về mặt chính trị và pháp luật, càng về sau càng mang ý nghĩa rộng hơn, thể hiện ở các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như kinh tế, văn hoá, tư tưởng, mối quan hệ giữa con người, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa công dân với nhà nước, giữa các nhà nước trên trường quốc tế,. Như vậy dân chủ là một khái niệm phức tạp và rộng lớn. Từ trước công nguyên, cách đây hàng ngàn năm, con người đã biết hợp lực với nhau để cùng sản xuất, chống thiên tai, thú dữ và tự tổ chức ra các hoạt động chung 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mang tính xã hội, trong đó có việc cử ra người đứng đầu các cộng đồng để thực thi những quy định chung và phế bỏ những người đó nếu họ không thực hiện theo ý nguyện, lợi ích chung của cộng đồng.
Khi lực lượng sản xuất phát triển, năng suất lao động tăng lên, sản phẩm làm ra dư thừa, xuất hiện chế độ tư hữu, xã hội phân chia giai cấp và mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt. Một hình thức tổ chức xã hội mới ra đời - đó là nhà nước dân chủ chủ nô thống trị đại đa số người lao động là giai cấp nô lệ. Khi đó nhà nước chủ nô mới chính thức sử dụng danh từ dân chủ. Nhưng dân ở đây chỉ là dân theo quy định của pháp luật do giai cấp chủ nô quy định bao gồm giai cấp chủ nô, tăng lữ, thương gia, một số trí thức và người tự do.
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, dân chủ mang tính giai cấp. Chế độ dân chủ gắn với một chế độ xã hội cụ thể và một giai cấp cầm quyền nhất định, đó là chủ nô. Như vậy, với sự xuất hiện của nhà nước, quyền lực cộng đồng xã hội chuyển hoá thành quyền lực nhà nước. Dân chủ mang bản chất giai cấp và trở thành mục tiêu đấu tranh, giành, giữ và phát triển của nhân loại.
Lịch sử của dân chủ cũng cho thấy các giai cấp thống trị khác nhau hiện thực hoá chế độ dân chủ theo lập trường và lợi ích của mình. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, chế độ phong kiến ra đời thay thế chế độ chiếm hữu nô lệ. Quyền lực xã hội bị thâu tóm vào tay nhà Vua, quyền thực hiện quyền dân chủ của nhân dân lao động bị thu hẹp. Khi quan hệ sản xuất phong kiến dần bị xóa bỏ, giai cấp tư sản ra đời, nền dân chủ tư sản xuất hiện với nhiều mặt tiến bộ so với các chế độ dân chủ trước với những thành tựu to lớn chủ yếu do nhân dân sáng tạo ra.
Mặc dù chế độ đó mang tên chế độ dân chủ, nhà nước dân chủ nhưng về thực chất vẫn không phải là nhà nước thực hiện quyền lực thực sự của nhân dân, phạm vi dân chủ của nó chỉ bó hẹp trong một bộ phận là giai cấp tư sản. Khái niệm tự do, dân chủ, bình đẳng bị che lấp bởi quan hệ bóc lột. Chỉ đến khi Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) thắng lợi, một thời đại mới mở ra. Khi đó giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động đánh đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giành lấy chính quyền, thiết lập nền dân chủ XHCN, quyền làm chủ của nhân dân mới trở thành thực chất và lập ra Nhà nước dân chủ XHCN, thiết lập nền dân chủ XHCN để thực hiện quyền lực của nhân dân.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Bản chất của nền dân chủ XHCN thể hiện ở chỗ: + Bản chất chính trị: dưới sự lãnh đạo duy nhất của một đảng của giai cấp công nhân, đảng Mác - Lênin mà trên mọi lĩnh vực xã hội đều thực hiện quyền lực của nhân dân, thể hiện qua các quyền dân chủ, làm chủ, quyền con người, thỏa mãn nhu cầu và các lợi ích của nhân dân. Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ: bản chất chính trị của nền dân chủ XHCN là ở sự lãnh đạo chính trị của giai cấp công nhân thông qua đảng của nó đối với toàn xã hội, nhưng không phải chỉ để thực hiện quyền lực và lợi ích riêng cho giai cấp công nhân mà chủ yếu là để thực hiện quyền lực và lợi ích của toàn thể nhân dân trong đó có giai cấp công nhân. Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ, dân làm chủ. Cán bộ là công bộc của dân.
Bộ máy chính quyền đều do nhân dân lập ra: “ Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [43, tr.Lênin còn nhấn mạnh rằng: dân chủ XHCN là chế độ mà nhân dân ngày càng tham gia nhiều vào công việc nhà nước. Với ý nghĩa đó, Lênin diễn đạt một cách khái quát về bản chất và mục tiêu của dân chủ XHCN là nền dân chủ “gấp triệu lần dân chủ tư sản”. Do vậy, dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa có bản chất giai cấp công nhân vừa có tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc. + Bản chất kinh tế: nền dân chủ XHCN dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu của toàn xã hội đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất dựa trên cơ sở khoa học - công nghệ hiện đại nhằm thỏa mãn ngày càng cao những nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân lao động.
Bản chất kinh tế chỉ được bộc lộ đầy đủ qua một quá trình ổn định chính trị, phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của đảng Mác - Lênin và quản lý, hướng dẫn, giúp đỡ của nhà nước XHCN. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Bản chất tư tưởng - văn hóa: Nền dân chủ XHCN lấy hệ tư tưởng Mác - Lênin, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân làm nền tảng chủ đạo, đối với mọi hình thái ý thức xã hội khác trong xã hội mới. Đồng thời, dân chủ XHCN kế thừa và phát huy những tinh hoa văn hóa truyền thống các dân tộc, tiếp thu những giá trị tư tưởng - văn hóa, văn minh tiến bộ của nhân loại. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể, trong đó có tư tưởng về dân chủ.
Bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân ngày càng được củng cố, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Trong văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định cần “Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa”, cụ thể: - Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, công chức phải hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân. - Nâng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân, năng lực làm chủ, tham gia quản lý xã hội của nhân dân. Có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp.
- Thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, những hành vi lợi dụng dân chủ để làm mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội; chống tập trung quan liêu, khắc phục dân chủ hình thức. - Quan tâm hơn nữa việc chăm lo hạnh phúc và sự phát triển tự do, toàn diện của con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết. Có thể khẳng định rằng, việc mở rộng dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu, đồng thời là động lực bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng, của cộng cuộc đổi mới và đi lên xây dựng CNXH ở nước ta.