phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 8 tiết. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 PLATÔN VỚI TÁC PHẨM “NỀN CỘNG HOÀ” 1. Những điều kiện kinh tế - xã hội và cơ sở lý luận cho sự ra đời tƣ tƣởng giáo dục của Platôn 1. Những điều kiện kinh tế - xã hội Theo C.
Mác: “không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [24, tr. Trung thành với quan điểm khoa học đó, trước khi tiến hành nghiên cứu tư tưởng giáo dục của Platôn chúng ta cần tìm hiểu những nét đặc thù trong điều kiện kinh tế - xã hội ở thời đại mà Platôn sống. Trên cơ sở đó, chúng ta mới có được nhận thức khách quan và những đánh giá về những giá trị và hạn chế một cách đúng đắn về tư tưởng giáo dục của Platôn. Platôn sinh ra và lớn lên ở Hy Lạp cổ đại, là cái nôi của nền triết học phương Tây.
Đây là một quốc gia rộng lớn có điều kiện thiên nhiên khá ưu đãi với mưa thuận gió hoà. Hy Lạp bao gồm miền nam bán đảo Ban Căng, miền ven biển phía Tây Tiểu Á và nhiều hòn đảo ở biển Êgiê. Hy Lạp được chia làm ba khu vực: Bắc, Nam và Trung bộ, trong đó phía Nam bộ là bán đảo Pelopongnedơ với nhiều đồng bằng rộng lớn, phì nhiêu rất thuận lợi cho việc trồng trọt và phát triển nông nghiệp. Miền Trung bộ có nhiều dãy nũi ngang dọc và những đồng bằng trù phú, tập trung nhiều dân cư, nơi có thành phố lớn như Aten.
Hy Lạp có vị trí địa lý với rất nhiều lợi thế, các mặt của lãnh thổ gần như tiếp giáp với biển, đặc biệt là vùng bờ biển phía Đông của bán đảo Ban Căng khúc khuỷu, nhiều vịnh nên Hy Lạp dễ dàng mở các cảng biển thông thương, giao lưu với các nước khác, tạo cơ sở thuận lợi để phát triển kinh tế, thủ công nghiệp và các ngành nghề khác. Trong đó, các đảo trên biển Êgiê là 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nơi trung chuyển cho việc đi lại buôn bán giữa Hy Lạp với các nước thuộc Tiểu Á và những nước khác. Vùng biển Tiểu Á là đầu nối giao thương giữa Hy Lạp và các nước phương Đông. Tất cả những điều kiện tự nhiên thuận lợi đó đã tạo nền tảng vững chắc cho Hy Lạp cổ đại nhanh chóng trở thành một quốc gia có một nền công thương nghiệp phát triển, một nền văn hóa tinh thần phong phú đa dạng, và chính nơi đây đã trở thành cái nôi của nền triết học phương Tây với những triết lý bất hủ trong đó có nhà đại hiền triết Platôn.
Về kết cấu giai cấp, từ thế kỷ thứ III đến thế kỷ thứ VI trước Công nguyên là thời kỳ quan trọng nhất trong lịch sử Hy Lạp cổ đại. Bởi đây là thời kỳ nhân loại chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt. Sự thay thế công cụ lao động đã tạo ra năng suất lao động tăng nhanh, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều dẫn đến dư thừa, chế độ chiếm hữu tư nhân được xác lập và ngày càng được củng cố. Sự phát triển của lực lượng sản xuất đã kéo theo sự phân công mạnh mẽ lao động trong xã hội.
Trong nông nghiệp chăn nuôi đã tách ra khỏi trồng trọt. Chế độ chiếm hữu nô lệ hình thành ngày càng rõ rệt kéo theo quan hệ xã hội cũng trở nên phức tạp, tổ chức xã hội có sự thay đổi mạnh mẽ. Nếu như trước đây các quan hệ cũ trong phạm vi bộ tộc, bộ lạc mang tính cộng đồng cao, các cá nhân muốn tồn tại và phát triển buộc phải hòa mình vào cuộc sống cộng đồng, trong xã hội vẫn chưa xuất hiện giai cấp thì nay chế độ chiếm hữu ra đời, đã làm xuất hiện các tư tưởng tư hữu và sau đó là chế độ tư hữu về của cải, đã làm hình thành giai cấp đối kháng với hai giai cấp cơ bản trong xã hội là giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ. Trong đó giai cấp chủ nô là giai cấp thống trị, bóc lột, còn giai cấp nô lệ là giai cấp bị trị, bị bóc lột.
Giai cấp nô lệ là lực lượng sản xuất chủ yếu trong xã hội, tạo ra của cải vật chất trong xã hội. Song dưới ánh mắt của người Hy Lạp cổ đại, nô lệ chỉ được coi là công cụ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Họ không bao giờ được hưởng một chút quyền lợi chính trị nào kể cả quyền làm người. Thời kỳ này, đã xuất hiện chế độ cộng hòa dân chủ, song nó chỉ giành cho dân tự do thuộc giai cấp chủ nô, còn đối với đông đảo nô lệ và kiều dân thì đó chỉ là nền tàn bạo của giai cấp chủ nô mà thôi.
Do đó, xã hội chiếm hữu nô lệ ngày càng phát triển thì đấu tranh giai cấp giữa chủ nô với nô lệ, giữa người giàu và người nghèo ngày càng mâu thuẫn gay gắt. Lao động trong xã hội đã có sự phân chia rõ rệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay, chính điều này đã tạo điều kiện cho một số người chỉ chuyên tâm lao động trí óc. Họ suy ngẫm về thế giới, xã hội và con người dần dần làm nảy nở các tư tưởng triết học. Các tri thức triết học và khoa học đã làm phá vỡ ý thức thần thoại và tôn giáo nguyên thủy thời đó.
Tuy nhiên, ngay khi mới ra đời các tư tưởng triết học cũng mang tính giai cấp sâu sắc và bị chi phối bởi ý chí của giai cấp thống trị. Nó là thế giới quan của giai cấp chủ nô và trở thành tư tưởng thống trị xã hội. Khẳng định điều này C.Ăngghen viết: “Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị. Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội.
Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối. Những tư tưởng thống trị không phải là cái gì khác mà chỉ là sự biểu hiện tinh thần của những quan hệ vật chất thống trị, chúng là những quan hệ vật chất thống trị được biểu hiện dưới hình thức tư tưởng; do đó là sự biểu hiện của chính ngay của những quan hệ làm cho một giai cấp trở thành giai cấp thống trị; do đó, đó là những tư tưởng của sự thống trị của giai cấp ấy” [22, tr. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thời kỳ cổ đại, Hy Lạp được phân chia thành nhiều nước nhỏ. Mỗi nước lấy một thành phố lớn làm trung tâm.
Trong đó có hai thành phố lớn và hùng mạnh nhất là Spác và Aten. Thành phố Spác nằm ở vùng bình nguyên, đất đai màu mỡ rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Chính quyền nơi đây được giai cấp chủ nô quý tộc duy trì theo kiểu cha truyền con nối. Do đó, Spác đã xây dựng một thiết chế nhà nước dân chủ thực hiện sự áp bức rất tàn khốc đối với giai cấp nô lệ.
Thành bang Aten nằm ở vùng đồng bằng thuộc Trung bộ Hy Lạp. Đây là thành phố rất phát triển của Hy Lạp thời kỳ cổ đại là trung tâm kinh tế - văn hóa và là cái nôi của triết học Châu Âu. Tương ứng với sự phát triển kinh tế, văn hóa là thiết chế nhà nước dân chủ Aten. Hai thành phố trên là hai thành phố hùng mạnh của Hy Lạp song do sự tranh giành quyền bá nên thành phố Aten và thành phố Spác luôn luôn tiến hành các cuộc chiến tranh tàn khốc, chém giết lẫn nhau kéo dài hàng chục năm và cuối cùng dẫn đến thất bại của thành Aten.
Cuộc chiến tranh giữa hai thành phố diễn ra đã làm cho Hy Lạp suy yếu nghiêm trọng trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, tình hình kinh tế - chính trị rất bất ổn, đời sống nhân dân rất khó khăn. Trong xã hội đã diễn ra các cuộc nổi dậy của giai cấp nô lệ nhưng đều thất bại vì họ xuất thân từ nhiều bộ lạc, họ nổi dậy một cách tự phát, không có ngôn ngữ chung và không được tham gia các hoạt động chính trị, xã hội. Nhân cơ hội này vua Philip ở phía bắc Hy Lạp đã đem quân xâm chiếm toàn bộ bán đảo Hy Lạp vào thế kỷ thứ II trước Công nguyên, trong điều kiện suy yếu Hy Lạp nhanh chóng bị rơi vào tay của đế quốc La Mã. Tuy đế quốc La Mã đã chiếm được Hy Lạp song do nền văn hóa của Hy Lạp phát triển rực rỡ khiến Đế quốc La Mã lại bị đồng hóa về mặt văn hóa.
Thời kỳ cổ đại, Hy Lạp đã xây dựng được những thành tựu rực rỡ trên các lĩnh vực như văn học, thiên văn học, nghệ thuật…. đây là cơ sở để hình thành nền văn minh phương Tây hiện đại. Cụ thể như: 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về nghệ thuật: Người Hy Lạp đã sáng tạo nên những công trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa có giá trị, thể hiện được tinh thần và tư tưởng của người Hy Lạp. Về văn học: Họ đã để lại một kho tàng văn học thần thoại đồ sộ rất phong phú, những tập thơ thấm đẫm tình cảm, những vở kịch độc đáo phản ánh cuộc sống sôi động, bền bỉ của người Hy Lạp.
Về luật pháp: Người Hy Lạp đã xây dựng được một nền pháp luật và được thực hiện khá nghiêm tại thành bang Aten. Về khoa học tự nhiên: Họ đã để lại những thành tựu toán học, vật lý làm nền tảng cho sự phát triển khoa học tự nhiên sau này. Với các tên tuổi nổi tiếng như Talet, Pytago, Heraclit… Về lĩnh vực thiên văn: Người Hy Lạp đã biết Trái đất hình cầu, đã dự báo được hiện tượng Nhật thực và Nguyệt thực, đã quan sát được các vì sao trên bầu trời… Về mặt lý luận: ý tưởng về sự bất tử của thần linh cũng tồn tại song song với ý tưởng về sự vĩnh cửu của vũ trụ như sự kết hợp thế giới quan thần thoại với tri thức khoa học và những mầm mống của tư duy triết học… Như vậy, có thể nói Hy Lạp cổ đại đã xây dựng được một nền văn minh phát triển rực rỡ sớm nhất nhân loại.