phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chƣơng, 6 tiết. 9 Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ NGUYỄN ĐỨC ĐẠT VÀ ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG GIÁO DỤC CỦA ÔNG TRONG TÁC PHẨM NAM SƠN TÙNG THOẠI 1.Bối cảnh lịch sử và tiền đề tƣ tƣởng hình thành tƣ tƣởng giáo dục của Nguyễn Đức Đạt 1. Bối cảnh kinh tế- xã hội Việt Nam thế kỷ XIX Nguyễn Huệ sau khi đánh tan 20 vạn quân Thanh đã lên ngôi Hoàng đế năm 1789 và lập nên triều Tây Sơn. Sau khi Nguyễn Huệ đột ngột qua đời, nội bộ triều Tây Sơn lục đục, Nguyễn Ánh nhân cơ hội đó tập trung sức mạnh của giai cấp địa chủ trong nƣớc đồng thời cầu viện sự ủng hộ của cả nƣớc ngoài đã đánh bại triều Tây Sơn vào năm 1802 và thiết lập triều đại nhà Nguyễn.
Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long, đến năm 1804, vua Gia Long đặt quốc hiệu nƣớc ta là Việt Nam. Sau đó vào năm 1820, Minh Mệnh đƣợc chọn làm ngƣời kế vị Gia Long và đổi quốc hiệu nƣớc ta từ Việt Nam thành Đại Nam và đóng đô ở Huế. Triều Nguyễn đƣợc lập nên sau một cuộc nội chiến kéo dài. Khác với các triều đại phong kiến Việt Nam trƣớc đây, về cơ bản và chủ yếu là gắn liền với quyền lợi của triều đại đó quyền lợi của nhân dân, thì nhà Nguyễn đƣợc dựng lên bằng một cuộc nội chiến kéo dài mà kẻ thắng đã dựa vào sức mạnh của thế lực ngoại bang.
Cũng nhƣ tất cả các triều đại phong kiến trƣớc đó, triều Nguyễn tiếp tục củng cố chế độ phong kiến trung ƣơng tập quyền chuyên chế trên cơ sở bảo vệ quyền lợi của giai cấp địa chủ, do vậy, triều Nguyễn không đƣợc lòng đại đa số nhân dân. Đến trƣớc khi Pháp xâm lƣợc Việt Nam vào năm 1858, bức tranh toàn cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam thời Nguyễn là đa dạng, phức tạp và có thời điểm nhƣ sự tự mâu thuẫn giữa cái cũ và cái mới, cái bảo thủ với cái lạc hậu. Nhƣng “Nhà Nguyễn cũng đã mở ra một bƣớc ngoặt lịch sử với một tổ chức chính quyền quy mô hơn thay thế cho những chính quyền cũ đã quá nát ruỗng, một sự ổn 10 định mới thay thế cho tình cảnh bấp bênh, loạn lạc v.v mà ai cũng đã chán ghét đến cực điểm và một nền văn hóa chính thống thay thế cho sự vô trật tự, đƣa lại cho xã hội sự kỷ cƣơng, nền nếp, một sự phục hồi bản sắc. Đó quả là mong mỏi chung của nhiều tầng lớp nhân dân, là khát vọng của cả một giai đoạn, là điều kiện hình thành và củng cố địa vị của triều đại Nguyễn trong lịch sử trung đại Việt Nam” [23,tr.
Ngay sau khi lên ngôi, nhà Nguyễn tìm mọi cách để ổn định xã hội, củng cố địa vị của mình, trong đó phục hồi Nho giáo là một trong những biện pháp then chốt các vua quan nhà Nguyễn sử dụng nhằm tăng cƣờng bảo vệ và duy trì địa vị thống trị và quyền lực của mình. Nhiệm vụ trung tâm của nhà Nguyễn lúc này là xây dựng lại đất nƣớc sau các cuộc nội chiến tàn phá trong các triều đại phong kiến trƣớc đó và lấy Nho giáo làm hệ tƣ tƣởng, là công cụ để duy trì địa vị thống trị của mình. Vua Gia Long và các vua kế vị đã thiết lập ở nƣớc ta chế độ quân chủ chuyên chế, tăng cƣờng bộ máy đàn áp, thi hành hàng loạt các biện pháp nhằm củng cố, bảo vệ địa vị thống trị vàquyền lợi của vƣơng triều. Với chủ trƣơng “dĩ nông vi bản” của nhà Nguyễn cho nên đến thế kỷ XIX, Việt Nam vẫn là một nƣớc nông nghiệp.
Nhà Nguyễn hết sức coi trọng vấn đề ruộng đất và sản xuất nông nghiệp. Ruộng đất là tƣ liệu sản xuất chủ yếu, là nền tảng kinh tế của xã hội phong kiến Việt Nam.Tuy nhiên, tình hình ruộng đất và nền sản xuất nông nghiệp thời kỳ này phải đối mặt với hàng loạt khó khăn nhƣ: ruộng đất bỏ hoang, nông dân phiêu tán, nội chiến làm cho nền nông nghiệp càng thêm xơ xác, tiêu điều. Vấn đề cấp thiết đặt ra lúc này cho các vua quan triều Nguyễn là phải khôi phục lại nền nông nghiệp, đƣa nông dân về với ruộng đất, ổn định làng xã. Đây là một trong những nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa quyết định với việc trị quốc, an dân.
Để khắc phục tình trạng đó, trong thời kỳ này các vua quan triều Nguyễn đã thực hiện một số biện pháp khuyến khích nhằm phát triển nông nghiệp, ngăn chặn nạn cƣớp đoạt 11 ruộng đất của địa chủ, cƣờng hào. Năm 1804, Vua Gia Long ban hành phép quân điền. Theo đó, tất cả mọi ngƣời đều đƣợc chia ruộng công, trừ các quý tộc vƣơng tôn đƣợc cấp 18 phần, quan lại nhất phẩm đƣợc cấp 15 phần, cứ tuần tự hạ mức cho đến dân nghèo đƣợc 3 phần. Đến triều Minh Mệnh vẫn theo chế độ quân điền.
Nhƣng trên thực tế, chính sách quân điền không có tác dụng đáng kể, dân nghèo vẫn không có ruộng đất. Chính sách quân điền của các vua Nguyễn thực chất là nhằm đảm bảo quyền lợi kinh tế của các quan lại, số ruộng cấp cho nông dân ngày càng ít và chỉ là những ruộng xấu. Nhƣ vậy, chính sách nông nghiệp của triều Nguyễn giai đoạn này, mặc dù cũng có những điểm tiến bộ, song những mặt hạn chế của nó là cơ bản. Nền kinh tế nông nghiệp dƣới triều Nguyễn chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển kinh tế của quốc gia.
Khẩn hoang và lập ấp làm tăng diện tích cày cấy nhƣng kết quả khẩn hoang phần lớn rơi vào tay địa chủ, cƣờng hào. Quá trình chiếm đoạt và tập trung ruộng đất vào tay địa chủ gắn liền với nó là sự bần cùng hóa của nông dân diễn ra mạnh mẽ. Các chính sách bảo vệ và phát triển nông nghiệp chƣa thực sự đƣợc quan tâm đúng mức. Chế độ công điền đƣợc duy trì lâu dài cùng với nền kinh tế tự nhiên, tự cấp càng làm cho làng xã trở thành đơn vị khép kín, hạn chế sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là kinh tế hàng hóa, tiền tệ.
Tóm lại, kinh tế nông nghiệp của nƣớc ta thời kì này vẫn chƣa đáp ứng đƣợc nhƣ cầu phát triển của đất nƣớc. Mặc dù, các chính sách tiến bộ đƣợc áp dụng trong sản xuất nông nghiệp nhƣ: khai hoang, lập ấp, bảo vệ đê điều đã giúp nhà Nguyễn phần nào khôi phục đƣợc nền kinh tế tiêu điều để lại từ thế kỷ trƣớc, giúp phần nào ổn định đƣợc đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, những chính sách này chƣa đủ sức mạnh để mở đƣờng cho sự phát triển của một nền nông nghiệp ở trình độ cao hơn và cho đến khi Pháp xâm lƣợc, bức tranh toàn cảnh của nền kinh tế nông nghiệp nƣớc ta vẫn ở tình trạng lạc hậu. 12 Trái ngƣợc lại với những chính sách tiến bộ trong nông nghiệp, triều đình nhà Nguyễn lại sai lầm khi áp dụng các biện pháp ức thƣơng nhằm hạn chế sự phát triển các nhân tố thƣơng mại trong nền kinh tế.
Việc hạn chế phát triển công thƣơng nghiệp không tạo nên điều kiện cần thiết cho xã hội thực hiện đƣợc những chuyển biến, dù rằng,Việt Nam dƣới triều đại nhà Nguyễn, đất nƣớc đƣợc thống nhất, yên bình là điều kiện thuận lợi cho việc buôn bán, trao đổi. Đƣờng cái quan nối liền Nam Bắc và các tỉnh đƣợc sửa đắp, nhiều kênh sông đƣợc khai đào v.v càng tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lƣu, buôn bán. Trong khi đó, triều đình thi hành chính sách bế quan tỏa cảng, thuế khóa phức tạp, thể lệ kiểm soát nghiêm ngặt đã hạn chế sự phát triển của kinh tế thƣơng nghiệp. Về nội thƣơng, triều đình coi muối, gạo là mặt hàng chiến lƣợc do nhà nƣớc quản soát nên đã cấm buôn bán từ vùng này sang vùng khác và nếu mang lúa gạo đi các tỉnh thì bị đánh thuế rất nhiều chặng.
Chính sách này đã gây ra sự ách tắc, ứ đọng hàng hóa, gây ra sự mất cân đối giữa cung và cầu ở các vùng khác nhau trong cả nƣớc. Chính sự giới hạn các mặt hàng đƣợc phép buôn bán cùng với sự kiểm soát, thu thuế và nhiều thủ tục phiền hà đã gây cản trở rất lớn đến hoạt động trao đổi, lƣu thông hàng hóa và kích thích sản xuất trong thời kì này. Về ngoại thƣơng, triều đình giữ độc quyền buôn bán với các nƣớc phƣơng Tây, thi hành chính sách “bế quan, tỏa cảng”. Ngƣời Trung Quốc ra vào buôn bán ở Việt Nam thì đƣợc ƣu đãi, còn Tây phƣơng thì phải xin phép buôn bán từng chuyến một.
Những chính sách hạn chế thƣơng mại đó đã làm ảnh hƣởng đến sự phát triển của kinh tế hàng hóa và chƣa tạo nên những điều kiện cần thiết cho sự chuyển biến xã hội. Điều đó khiến nền kinh tế nƣớc ta suy yếu, không đủ sức đƣơng đầu với những khó khăn, thách thức mới của thời đại. Yêu cầu phát triển kinh tế Việt Nam là một tất yếu nhƣng các vua quan triều Nguyễn tiến hành khôi phục và phát triển đất nƣớc cũng chỉ nhằm mục đích chủ yếu là củng cố sự vững mạnh của vƣơng 13 triều họ Nguyễn, là xây dựng quốc gia hùng mạnh theo mô hình phong kiến - mô hình xã hội đã lỗi thời, không còn thích hợp với thời đại mới nữa. Tuy nhiên vẫn phải thừa nhận rằng, xã hội Việt Nam dƣới triều Nguyễn ít nhiều có sự chuyển biến về thƣơng mại.
Trong nền kinh tế Việt Nam thế kỷ XIX, tỉ lệ của nền sản xuất công nghiệp còn rất nhỏ. Hình thức phổ biến của công nghiệp là thủ công và tiểu thủ công, chủ yếu là công nghiệp tại gia tức là sự chế biến nguyên liệu ngay ở nơi làm ra nguyên liệu. Nhƣ vậy, tình hình công nghiệp ở giai đoạn này không có sự phát triển mạnh, biểu hiện rõ nhất là nhà Nguyễn vẫn nắm giữ những công xƣởng lớn nhƣ: đúc súng, đúc tiền, đóng tàu. Thợ làm việc trong các công xƣởng chủ yếu trƣng tập thợ giỏi các tỉnh, đƣợc tổ chức theo chế độ công tƣợng, tập trung theo ban, hƣởng lƣơng theo công việc nặng, nhẹ gồm gạo và tiền.
Chế độ làm việc nặng nề và chịu sự kiểm soát ngặt nghèo của các đốc công. Tuy nhiên, do tính chất tập trung trong lao động và trình độ tay nghề của thợ, sản phẩm làm ra đều có chất lƣợng cao. Nhận xét về việc đóng tàu của họ, một sĩ quan Mỹ là Jonh White đến nƣớc ta năm 1820 đã viết “Ngƣời Việt Nam quả là những ngƣời đóng tàu thành thạo.