Luận văn: Tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ (Trần Tấn Tài, Học viện KHXH)

Tài liệu nghiên cứu Luận văn tư tưởng cải cách của đặng huy trứ, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2021

80
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA ĐẶNG HUY TRỨ

1.1. BỐI CẢNH THẾ GIỚI NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX

1.2. BỐI CẢNH VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX

1.3. SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA ĐẶNG HUY TRỨ

1.3.1. Điều Kiện, Tiền Đề Hình Thành Tư Tưởng Cải Cách Đặng Huy Trứ

1.3.2. Cuộc Đời, Sự Nghiệp Và Sự Hình Thành Tư Tưởng Cải Cách Của Đặng Huy Trứ

1.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG NỘI DUNG TRONG TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA ĐẶNG HUY TRỨ

2.1. TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TIẾN BỘ CỦA ĐẶNG HUY TRỨ

2.1.1. Tư tưởng thương dân - Mối quan hệ giữa dân và quan

2.1.2. Đạo làm quan

2.1.3. Tư tưởng bảo vệ đạo đức thanh liêm của người làm quan

2.2. TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA ĐẶNG HUY TRỨ VỀ KINH TẾ XÂY DỰNG CON ĐƯỜNG TỰ CƯỜNG, TỰ TRỊ CHO DÂN TỘC

2.2.1. Phát triển thương nghiệp làm ra của cải là một việc lớn

2.2.2. Tư tưởng tự lực, tự cường xây dựng đất nước

2.2.3. Phải học hỏi, tiếp thu công nghệ khoa học kĩ thuật

2.2.4. Tư tưởng cải cách giáo dục Nho học của Đặng Huy Trứ

2.2.5. Cải cách văn hóa bằng việc phê phán bài trừ hủ tục truyền thống và thói hư tật xấu trong nhân dân

2.3. TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA ĐẶNG HUY TRỨ VỀ QUÂN SỰ

2.3.1. Những nội dung cơ bản trong tư tưởng cải cách quân sự của Đặng Huy Trứ

2.3.2. Chiến tranh nhân dân là huyết mạch quyết định sự an nguy của đất nước

2.3.3. Biên soạn, sưu tầm và in ấn phát hành binh thư lưu truyền cho hậu thế

2.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA ĐẶNG HUY TRỨ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA ĐẶNG HUY TRỨ ĐỐI VỚI TRIỀU ĐÌNH NHÀ NGUYỄN

3.2. GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH ĐẶNG HUY TRỨ ĐỐI VỚI PHONG TRÀO CẢI CÁCH ĐẤT NƯỚC NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX

3.3. Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA ĐẶNG HUY TRỨ ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY

3.3.1. Một vài chủ đề trong cải cách Việt Nam hiện nay

3.3.2. Ý nghĩa của tư tưởng cải cách của Đặng Huy Trứ đối với hiện nay

3.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám phá tiểu sử Đặng Huy Trứ tư tưởng cải cách cốt lõi

Giữa bối cảnh lịch sử thế kỷ 19 đầy biến động, Đặng Huy Trứ nổi lên như một ngôi sao sáng trong hàng ngũ các nhà nho yêu nước. Ông không chỉ là một vị quan mẫn cán của triều đại nhà Nguyễn mà còn là một nhà cải cách có tầm nhìn vượt thời đại. Cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn liền với những trăn trở về vận mệnh dân tộc, thôi thúc ông tìm kiếm con đường canh tân, đổi mới. Tư tưởng cải cách Đặng Huy Trứ được hình thành từ sự kết hợp giữa nền tảng Nho học vững chắc, tinh thần yêu nước nồng nàn và những trải nghiệm thực tiễn sâu sắc khi đi sứ, tiếp xúc với văn minh phương Tây. Phân tích cuộc đời ông là chìa khóa để hiểu rõ nguồn gốc và động lực đằng sau những đề xuất cải cách táo bạo, toàn diện trên mọi lĩnh vực từ kinh tế, chính trị đến quân sự, giáo dục.

1.1. Đặng Huy Trứ là ai Sơ lược cuộc đời và sự nghiệp

Đặng Huy Trứ (1825 - 1874) sinh ra trong một gia đình Nho học tại Thừa Thiên. Con đường khoa cử của ông ban đầu gặp nhiều trắc trở nhưng với tài năng và nghị lực, ông đã đỗ đạt và ra làm quan. Sự nghiệp của ông trải qua nhiều chức vụ quan trọng như Ngự sử, Bố chánh, và đặc biệt là những lần đi sứ sang Trung Quốc. Chính trong những chuyến đi này, ông đã tận mắt chứng kiến sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật phương Tây và nhận ra sự trì trệ, lạc hậu của đất nước. Ông được biết đến là ông tổ nghề nhiếp ảnh Việt Nam khi mang kỹ thuật này về nước và mở hiệu ảnh Cảm Hiếu Đường. Cuộc đời ông là một chuỗi ngày cống hiến không mệt mỏi cho mục tiêu phú quốc cường binh, tìm con đường canh tân để cứu vãn vận mệnh dân tộc trước họa xâm lăng.

1.2. Các tiền đề hình thành tư tưởng canh tân đất nước

Tư tưởng canh tân đất nước của Đặng Huy Trứ không tự nhiên xuất hiện. Nó được hun đúc từ nhiều tiền đề quan trọng. Thứ nhất là truyền thống yêu nước, thương dân sâu sắc của dân tộc Việt Nam. Thứ hai là nền tảng Nho giáo mà ông thụ hưởng từ gia đình, với các giá trị về đạo làm quan, đạo quân tử. Tuy nhiên, ông không tiếp thu một cách giáo điều mà có sự cải biến cho phù hợp với thực tiễn. Tiền đề quyết định nhất chính là những chuyến đi sứ, cho phép ông trực tiếp giao thương với phương Tây và các quốc gia chịu ảnh hưởng. Việc tiếp xúc với “Tân thư” và các thành tựu văn minh đã làm thay đổi hoàn toàn nhãn quan của ông, thôi thúc ông phải tìm cách học hỏi để tự lực, tự cường.

II. Phân tích bối cảnh lịch sử thách thức của triều Nguyễn

Để hiểu được tính cấp thiết và giá trị tư tưởng Đặng Huy Trứ, cần phải phân tích sâu sắc bối cảnh lịch sử mà ông đang sống. Nửa cuối thế kỷ XIX là một giai đoạn đầy khủng hoảng của Việt Nam. Bên ngoài, chủ nghĩa đế quốc phương Tây đang bành trướng mạnh mẽ, trực tiếp đe dọa nền độc lập. Bên trong, triều đại nhà Nguyễn lại tỏ ra bảo thủ, trì trệ với chính sách “trọng nông ức thương” và “bế quan tỏa cảng”. Nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, xã hội rối ren, quân đội yếu kém đã đẩy đất nước vào thế nguy nan. Chính thực trạng này là thách thức lớn nhất, đồng thời là động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy các sĩ phu yêu nước như Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ dâng lên những bản điều trần, tìm kiếm con đường cải cách để cứu nước.

2.1. Bối cảnh thế giới thế kỷ 19 và làn sóng chủ nghĩa đế quốc

Thế giới nửa cuối thế kỷ XIX chứng kiến sự phát triển vũ bão của chủ nghĩa tư bản phương Tây, chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc. Các cường quốc như Anh, Pháp đẩy mạnh việc xâm chiếm thuộc địa để tìm kiếm thị trường và vơ vét tài nguyên. Làn sóng này đã lan rộng đến châu Á, biến nhiều quốc gia thành thuộc địa hoặc phụ thuộc. Các nước láng giềng như Trung Quốc cũng điêu đứng trước sự xâu xé của ngoại bang. Trong khi đó, cuộc Duy Tân Minh Trị ở Nhật Bản lại là một tấm gương về sự canh tân thành công. Bối cảnh quốc tế phức tạp này vừa là mối đe dọa hiện hữu, vừa mang lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho các nhà cải cách Việt Nam, trong đó có Đặng Huy Trứ.

2.2. Khủng hoảng kinh tế xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn

Dưới triều Nguyễn, Việt Nam rơi vào một cuộc khủng hoảng toàn diện. Về kinh tế, chính sách trọng nông và ức chế thương nghiệp đã kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, khiến kinh tế đình đốn. Nông dân bị bóc lột nặng nề, đời sống lầm than. Về xã hội, tệ nạn tham nhũng, quan liêu tràn lan, bộ máy cai trị rệu rã. Vua quan xa rời thực tế, bảo thủ và bất lực trước những biến động của thời cuộc. Hệ tư tưởng Nho giáo đã trở nên lỗi thời, không còn khả năng giải quyết các vấn đề của đất nước. Sự yếu kém về mọi mặt đã khiến triều đình thất bại liên tiếp trước sự xâm lược của thực dân Pháp, đẩy dân tộc đến bờ vực mất nước. Đây chính là mảnh đất hiện thực đã sản sinh ra những tư tưởng cải cách cấp tiến.

III. Giải mã tư tưởng cải cách chính trị xã hội của Đặng Huy Trứ

Một trong những trụ cột quan trọng nhất trong hệ thống tư tưởng cải cách Đặng Huy Trứ là các đề xuất về chính trị - xã hội. Ông nhận thức sâu sắc rằng một quốc gia muốn hùng mạnh thì trước hết phải có một bộ máy cai trị trong sạch, vững mạnh và phải lấy dân làm gốc. Tầm nhìn của ông không chỉ dừng lại ở việc thay đổi chính sách mà còn hướng đến việc xây dựng một nền tảng đạo đức mới cho quan lại và củng cố mối quan hệ giữa chính quyền với nhân dân. Ông kịch liệt phê phán nạn tham nhũng, sự xa rời dân chúng của tầng lớp quan lại, coi đó là những ung nhọt làm suy yếu đất nước từ bên trong. Các tư tưởng này thể hiện rõ tinh thần nhân văn và tầm nhìn chiến lược của một nhà cải cách thực thụ.

3.1. Tư tưởng thương dân và mối quan hệ giữa dân với quan

Khác với quan điểm Nho giáo truyền thống coi vua quan là gốc, Đặng Huy Trứ khẳng định một cách mạnh mẽ: “dân là gốc của nước, là chủ của thần”. Tư tưởng thương dân của ông không phải là sự ban ơn mà là nhận thức rõ vai trò và sức mạnh của nhân dân đối với sự tồn vong của quốc gia. Ông cho rằng, đạo làm quan là phải chăm lo cho đời sống của dân, cứu giúp dân khi đói khổ. Khi làm Bố chánh Quảng Nam, ông đã hết lòng cứu đói, thể hiện rõ nguyên tắc “dân không chăm sóc, chớ làm quan”. Mối quan hệ giữa quan và dân phải là mối quan hệ gắn bó, phục vụ, chứ không phải là cai trị, áp bức. Đây là một tư tưởng vô cùng tiến bộ, đặt nền móng cho một nhà nước vì dân.

3.2. Chuẩn mực đạo làm quan và tư tưởng chống tham nhũng

Đối mặt với tệ nạn tham nhũng hoành hành, Đặng Huy Trứ đã xây dựng một hệ thống chuẩn mực đạo đức cho người làm quan, thể hiện qua 4 chữ: Thanh - Cần - Thận - Nhẫn. Đặc biệt, ông là tác giả của công trình đồ sộ “Từ Thụ Yếu Qui” (Quy tắc chủ yếu trong việc từ chối hay nhận quà biếu), một tác phẩm được xem là cẩm nang chống tham nhũng đầu tiên của Việt Nam. Trong đó, ông chỉ ra 104 trường hợp hối lộ không được nhận và chỉ 5 trường hợp có thể nhận theo lễ nghĩa thông thường. Tư tưởng này cho thấy một quyết tâm mãnh liệt trong việc làm trong sạch bộ máy nhà nước, coi đạo đức thanh liêm là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công các cải cách khác.

IV. Cách Đặng Huy Trứ đề xuất đổi mới kinh tế khoa học kỹ thuật

Tầm nhìn vượt trội của Đặng Huy Trứ thể hiện rõ nhất qua các đề xuất đổi mới kinh tế và kỹ thuật. Ông là một trong những người đầu tiên ở Việt Nam nhận ra sức mạnh của thương nghiệp và công nghiệp, đi ngược lại với tư tưởng “trọng nông ức thương” đã ăn sâu vào xã hội phong kiến. Ông cho rằng, con đường duy nhất để đạt được mục tiêu phú quốc cường binh là phải phát triển kinh tế toàn diện, mở cửa giao thương và tích cực học hỏi các thành tựu khoa học kỹ thuật của phương Tây. Ông không chỉ đề xuất trên giấy tờ mà còn trực tiếp hành động, xin lập Ty Bình Chuẩn để kinh doanh, mua sắm máy móc, nghiên cứu kỹ thuật đóng tàu, tất cả đều nhằm mục tiêu xây dựng một nền kinh tế tự cường.

4.1. Phát triển thương nghiệp Quan điểm dĩ thương gia vi bản

Đặng Huy Trứ đã có một cuộc cách mạng trong tư duy khi khẳng định “Làm ra của cải, cái đạo lý lớn ấy là việc không thể coi nhẹ được”. Ông đề cao vai trò của thương nghiệp, coi đây là con đường căn bản để làm đất nước giàu mạnh. Quan điểm “dĩ thương gia vi bản” (lấy nhà buôn làm gốc) của ông là một sự đoạn tuyệt dứt khoát với tư tưởng phong kiến cũ kỹ. Việc ông xin thành lập và điều hành Ty Bình Chuẩn là một minh chứng sống động. Đây là một cơ quan kinh doanh của nhà nước theo phương thức “công tư lưỡng lợi”, hoạt động trên phạm vi cả nước, thực hiện lưu thông hàng hóa và tạo ra nguồn thu lớn cho ngân khố. Ông cũng đề cao đạo đức kinh doanh, yêu cầu sự trung thực, sòng phẳng, không lừa dối.

4.2. Con đường tự lực tự cường và cải cách quân sự

Mục tiêu cuối cùng của mọi cải cách là bảo vệ nền độc lập. Đặng Huy Trứ chủ trương con đường tự lực, tự cường. Ông nhấn mạnh: “Dùng kế tự cường, tự trị, dần dần khôi phục, đó là thượng sách”. Để tự cường, bên cạnh việc phát triển kinh tế, ông đặc biệt chú trọng đến cải cách quân sự. Trong các chuyến đi sứ, ông đã tìm mua hàng trăm khẩu đại bác, vũ khí hiện đại, nghiên cứu binh thư và các kỹ thuật quân sự mới. Ông nhận thấy sự yếu kém của quân đội triều Nguyễn và cho rằng cần phải hiện đại hóa vũ khí, trang bị và học hỏi cách tổ chức, huấn luyện của phương Tây. Đây là một tầm nhìn chiến lược, gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế và quốc phòng.

V. Đánh giá giá trị tư tưởng Đặng Huy Trứ và ý nghĩa hiện đại

Mặc dù những đề xuất cải cách của Đặng Huy Trứ và các sĩ phu cùng thời không được triều đại nhà Nguyễn chấp nhận và thực thi triệt để, dẫn đến việc không thể cứu vãn được vận mệnh đất nước, nhưng giá trị tư tưởng Đặng Huy Trứ để lại cho hậu thế là vô cùng to lớn. Những tư tưởng của ông về kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục đã vượt xa tầm nhìn của thời đại, thể hiện một tinh thần yêu nước sâu sắc và một trí tuệ mẫn tiệp. Ông là một trong những người tiên phong trong phong trào canh tân, gieo những hạt giống đầu tiên cho tư duy đổi mới ở Việt Nam, và những bài học từ tư tưởng của ông vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.

5.1. Những đóng góp vượt thời đại cho phong trào Duy Tân

So với các nhà cải cách cùng thời như Nguyễn Trường Tộ hay Phạm Phú Thứ, tư tưởng cải cách Đặng Huy Trứ có một điểm đặc biệt nổi bật: tính thực tiễn và tinh thần “dám nghĩ dám làm”. Ông không chỉ dừng lại ở việc dâng sớ tâu trình mà còn trực tiếp bắt tay vào hành động: mở hiệu ảnh, lập Ty Bình Chuẩn, mua sắm vũ khí. Tư tưởng khai hóa văn minh của ông toàn diện trên mọi lĩnh vực, từ việc coi trọng thương nghiệp, học hỏi kỹ thuật đến việc chống tham nhũng, đề cao đạo đức người làm quan. Những tư tưởng này đã góp phần “chọc thủng bóng đen của hệ tư tưởng phong kiến”, mở đường cho các phong trào yêu nước và canh tân sau này.

5.2. Bài học kinh nghiệm cho công cuộc đổi mới Việt Nam ngày nay

Giá trị tư tưởng Đặng Huy Trứ vẫn còn nguyên ý nghĩa sâu sắc đối với công cuộc Đổi Mới của Việt Nam hiện nay. Bài học về việc mở cửa hội nhập, chủ động tiếp thu khoa học công nghệ, phát triển kinh tế thị trường đi đôi với việc xây dựng nhà nước pháp quyền trong sạch, vững mạnh và quyết liệt chống tham nhũng vẫn luôn là vấn đề thời sự. Tinh thần tự lực, tự cường, kết hợp sức mạnh nội tại với việc học hỏi tinh hoa nhân loại mà ông đề xướng chính là kim chỉ nam cho sự phát triển bền vững của quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa. Nghiên cứu tư tưởng của ông là cách để “ôn cố tri tân”, rút ra những bài học lịch sử quý báu cho hiện tại và tương lai.

05/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA ĐẶNG HUY TRỨ 1. Bối cảnh thế giới nửa cuối thế kỷ XIX. Vào cuối thế kỷ XIX tình hình thế giới có nhiều biến đổi trên diện rộng và ảnh hưởng sâu sắc đến tất cả mọi mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học kỹ thuật. Những biến đổi bắt đầu từ những thành tựu khoa học kỹ thuật làm kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các mặt chính trị, xã hội.

Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản tự do đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc làm thay đổi toàn diện xã hội Phương Tây. Sự bành trướng mở rộng xâm chiếm thị trường thuộc địa thế giới thay đổi trật tự thế giới và tất yếu ảnh hưởng đến tình hình Việt Nam cuối thế kỷ XIX. Về kinh tế, từ khi chủ nghĩa tư bản hình thành đã tạo ra lực lượng sản xuất lớn. Trong quá trình lịch sử nhân loại có thể nói theo cách đánh giá của C.Mác và Ăng-ghen: “giai cấp tư sản đã đóng một vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử”, “giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp trong vòng một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả thế hệ trước kia gộp lại”[19, tr.

Việc nắm giữ trong tay lực lượng sản xuất tiên tiến đã làm cho của cải của nhân loại dư thừa ra, thúc đẩy sự trao đổi các giá trị hàng hóa. Tạo tiền đề cho sự chuyển biến sang chủ nghĩa tư bản độc quyền. Sự phát triển nhanh mạnh với khối lượng của cải khổng lồ của chủ nghĩa tư bản nhờ vào sự phát triển của khoa học kĩ thuật. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật không chỉ dừng lại ở những công trình nghiên cứu khám phá thế giới, mà nay đã áp dụng sâu rộng vào quá trình sản xuất.

Mở rộng thị trường và thu được lợi nhuận nhiều hơn khi sự phát triển tư bản ở các nước xã hội Phương Tây đã trở nên ngột ngạt thì các nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha… đã tiến về phương Đông nhằm biến phương Đông thành cỗ máy trục lợi cho đế quốc. Điều đó đã làm cho xã hội phương Đông thay đổi sâu sắc về mọi mặt từ kinh tế đến chính trị-xã hội. 13 Đánh giá tình hình thế giới lúc này Đặng Huy Trứ cho rằng vào thời điểm hiện tại để thoát khỏi hiện thực khắc khổ của nhân dân Việt Nam cần: “Tự cường, tự trị, dần dần khôi phục” đó là thượng sách. Về mặt xã hội, xã hội bị phân hóa rõ rệt giữa giàu nghèo.

Trong thời kì này xã hội đã phân chia thành nhiều giai cấp. Ngoài giai cấp tư sản, địa chủ quý tộc, nông dân thì xuất hiện thêm giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân được sinh ra trực tiếp từ quá trình sản xuất tư bản ngày càng chiếm số lượng đông đảo, phải chịu sự bóc lột nặng nề của giải cấp tư sản, mâu thuẫn của giai cấp công nhân đối với giai cấp tư bản càng ngày càng không thể điều hòa. Mâu thuẫn giai cấp quyết liệt dẫn đến hàng loạt cuộc đấu tranh giai cấp đã bùng nổ khắp nơi trên thế giới.

Kết hợp với các phong trào đấu tranh là nhiều luồng tư tưởng đã được hình thành và phát triển, trong đó hệ tư tưởng Mác như là một ánh sáng chân lí đã được giai cấp công nhân tiến bộ giác ngộ và phát triển gắn liền với các cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh vĩ đại của giai cấp công nhân, vì mục tiêu hướng về độc lập, tự do, bình đẳng, bác ái cho dân tộc mình. Về chính trị, kinh tế chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến tầm cao mới, tác động mạnh mẽ đến chính trị thế giới. Cùng với quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa trong chính trị chế độ quân chủ càng ngày bị đánh mất đi quyền lực chính trị của mình. Đây là thời kì đánh dấu sự chuyển biến rõ nét từ chế độ quân chủ sang chế độ dân chủ.

Quân chủ chuyển dần sang dân chủ, khoa học kỹ thuật thực nghiệm thay thế niềm tin tôn giáo. Nền dân chủ mà giai cấp tư sản xây dựng có giá trị văn hóa khi nó dùng để chống lại chế độ phong kiến cường quyền ở các nước tư bản, nhưng trong cuộc bành trướng của chủ nghĩa đế quốc đến các nước thuộc địa của thực dân thì dân chủ là không tồn tại. Về khoa học kỹ thuật, sự phát triển của khoa học kĩ thuật thời kì này là vượt trội nhất so với các thời đại trước đó. Công trình nổi bật nhất của thế kỷ XIX phải nói đến là học thuyết tiến hóa của Đác uyn.

Đây được xem như là một cuộc cách mạng trong ngành công nghệ sinh học và thậm chí ảnh hưởng sang đến khoa học xã hội. Nội dung căn bản của học thuyết đã làm rõ quy luật đấu tranh sinh tồn của các 14 loài. Vì phải tồn tại nên tất cả các loài phải biến hóa để thích nghi, nếu không tiến hóa thì sẽ bị tự nhiên đào thải. Tiếp nối thành tựu vượt bậc trong lĩnh vực sinh học thì G.

Men đen đã phát hiện tiến xa hơn về di truyền học và được gọi là cha đẻ của di truyền học hiện đại. Trong lĩnh vực y học Paxtơ cũng đã có phát minh quan trọng là thuốc Vacxin. Ngành hóa học Men-Đê-Lép đã lập nên bảng tuần hoàn hệ thống các nguyên tố hóa học. Trong lĩnh vực vật lý cũng có nhiều phát hiện, phát minh quan trọng; học thuyết tương đối của Anhxtanh, bóng đèn và nhà máy điện Edison, tia Rơnghen.

Sự phát triển mà có tác động đến quá trình phát triển của tư bản cũng như hệ tư tưởng đó là những thành tựu trong lĩnh vực điện báo, sóng vô tuyến phát thanh truyền hình… C.Mác đã từng viết về sự phát triển khoa học kĩ thuật trong nửa cuối thế kỷ XIX như sau: “sự chinh phục những lực lượng thiên nhiên bằng máy móc, việc áp dụng hóa học vào công nghiệp và nông nghiệp, việc dùng tàu chạy bằng hơi nước, đường sắt, máy điện báo, việc khai phá từng lục địa nguyên vẹn, việc khai thông các tàu bè đi lại được, hàng khối dân cư tựa hồ như từ dưới đất trồi lên, - có thể kỷ nào trước đây ngờ được rằng có những lực lượng sản xuất như thế vẫn nằm tiềm tàng trong lòng lực lượng xã hội!”. 603] Chính Đặng Huy Trứ cũng đã ngỡ ngàng và tự nhận tài học của mình còn kém cỏi, thua thiệt: thiên văn, toán số không giỏi thì làm sao lo được cho nhân dân.Ông so sánh tài cán mình với Chim Ô Thước, chim Viên cơ chúng nó còn hay hơn cả mình khi có thể lắng nghe được thiên nhiên mà dời tổ. “Trải qua việc, mới biết tài học ta nông cạn. Văn chương có bao giờ chống được gió bão”.

271] Từ đó ông nung nấu tư tưởng cần sang Phương Tây để học hỏi trau dồi những tri thức hiện đại của nhân loại. Trong tác phẩm Đề bức ảnh mặc triều phục ông cũng đã bình phẩm về sự hiện đại của chiếc máy ảnh đến từ văn minh Phương Tây và thổ lộ cái lòng tôi trung sâu xa của mình“Nhưng cái lo, cái nhục của lòng người bề tôi là quyết tiêu diệt giặc. Một điểm trong tim tôi, anh có biết không? Muốn sang Tây vực để vẽ bức tranh toàn cảnh”. 343] 15 Về văn học- nghệ thuật, nội dung các tác phẩm văn học hiện tại thường miêu tả sự tác động của cuộc cách mạng tư sản và quá trình quá trình công nghiệp hóa.

Nhờ sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học kĩ thuật mà các tác phẩm được in ấn với số lượng lớn hơn và truyền đi nhanh lan rộng mạnh mẽ, góp phần nâng cao tri thức nhân loại và tình hình thế giới. Các thể loại văn học nghệ thuật cũng đa dạng phong phú hơn: tạp chí, nhật báo, luận cổ điển đến tiểu thuyết hiện đại. Về mặt tư tưởng, sự phát triển của khoa học kĩ thuật cũng như hiện thực xã hội trong nền kinh tế tư bản đã làm xuất hiện sôi nổi các trào lưu tư tưởng. Trong đó đáng đề cập đến là phong trào khai sáng Pháp với các đại biểu Thomas Paine, Voltaire, Jean-Jacques Rousseau, Immanuel Kant và David Hume với tư tưởng tấn công vào cái niềm tin tôn giáo đã mục rỗng và lỗi thời.

Nội dung tư tưởng ở thời kì này thường là tư tưởng về hiện thực xã hội, không chỉ thế các nhà tư tưởng đề ra cả những phương pháp cải tạo xã hội hiện thực ấy phải kể đến như: “Thuyết Mantut” về qui luật phát triển dân số nhân loại, “thuyết Trực giác” về nhận thức thế giới không cần thông qua thần linh hay tri thức khoa học mà thông qua “ linh tính”; “ thuyết hành vi Páp lốp” về quy luật của hành động là một khoa học. Không những thế những câu hỏi bâng khuâng, trăn trở làm thế nào để giải phóng dân tộc, con đường nào cho lối đi đất nước đã được suy tư rất nhiều ở các nước bị xâm lược như phương Đông. ỞNhật Bản, triều đình Mạc phủ thi hành chính sách “ tỏa quốc” nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của chủ nghĩa đế quốc. Chính sách cấm đoán người truyền đạo Thiên chúa giáo và người nước ngoài vào Nhật để buôn bán.

Điều này làm cho tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội suy kiệt dần. Đất nước Nhật Bản đứng trước nguy cơ bị xâm lược bởi các nước thực dân lớn mạnh: Bồ Đào Nha, Hà Lan, Mỹ, Anh. Ngày càng nhiều phong trào trong nước muốn Duy Tân đất nước, lật đổ triều Mạc đi theo con đường âu hóa, thống nhất quốc gia và tôn vua trở lại địa vị tối cao có thực quyền bằng khẩu hiệu: “tôn quân, diệt di, phản Mạc” [15, tr. Năm 1868 Thiên Hoàng Minh Trị Mutsuhito lên ngôi dời đô Từ Kyoto về Edo, phế bỏ chế độ lãnh chúa và võ sĩ, các lãnh chúa Đai-mi-ô và các võ sĩ Samurai về làm 16 thường dân.

Thiên hoàng lãnh đạo phong trào Duy tân, thâu tóm tập trung quyền lực, phát triển giáo dục, mời các nhà khoa học về nước dạy, hoặc đưa người sang Tây du học. “Trong thời gian rất ngắn, ba chục năm. Các sĩ phu đều hăng hái học tập Phương Tây, dịch sách Âu mỹ, nghiên cứu chính thể kỹ nghệ. Chính phủ đón thầy Âu dạy học cho dân: Kỹ sư Anh dạy cách cất đường xe lửa và đóng tàu, người Pháp dạy về luật và binh bị, giáo sư Đức dạy về y học và hóa học, nhà chuyên môn Hoa Kỳ tổ chức giáo dục, các nghị sĩ Ý thì dạy âm nhạc và điêu khắc”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ