Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Quản trị nhân lực (Kinh tế lao động), mã số 62 34 04 04, mang tên "Tự tạo việc làm của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An" được nghiên cứu sinh Hồ Thị Diệu Ánh thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, 2015), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Xuân Cầu. Công trình có độ dài chính văn 135 trang, bao gồm 73 tài liệu tham khảo (55 tiếng Việt, 18 tiếng nước ngoài), 6 phụ lục (79 trang) cùng hệ thống minh họa gồm 25 bảng số liệu, 3 biểu đồ, 1 sơ đồ, 1 hình bản đồ và 8 hộp trích dẫn nghiên cứu định tính.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau gần 30 năm đổi mới, cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn tại tỉnh Nghệ An đã có những chuyển biến nhất định. Tuy nhiên, tỷ lệ dân cư sống ở nông thôn giảm chậm, thu nhập của các hộ thuần nông còn ở mức thấp do tập quán sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, hạn chế năng lực cạnh tranh. Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho việc xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất làm xuất hiện một bộ phận dân cư nông thôn không còn đất sản xuất, rơi vào tình trạng thiếu việc làm, phải đi làm thuê với thu nhập bấp bênh hoặc di cư tự do vào các tỉnh phía Nam (như Bình Dương, Đồng Nai). Mỗi năm, lực lượng lao động của tỉnh bổ sung thêm khoảng hơn 30.000 người, trong khi nhu cầu giải quyết việc làm mới lên tới 34.000 lao động/năm, tạo sức ép lớn lên thị trường lao động địa phương.

Về mặt nhận thức, nhiều quan điểm trước đây coi tạo việc làm là trách nhiệm hành chính mang tính bao cấp từ phía chính quyền địa phương, tạo ra sức ỳ tâm lý và sự thụ động cho người lao động. Luận án xác định việc nghiên cứu quá trình tự tạo việc làm của lao động nông thôn — đặc biệt là trong các hoạt động phi nông nghiệp — không chỉ là giải pháp tình thế giảm tỷ lệ thất nghiệp mà là phương thức chủ động giúp người lao động phát huy nội lực, nâng cao thu nhập và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại chỗ.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tự tạo việc làm của lao động nông thôn Nghệ An.
  2. Đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhóm yếu tố tác động đến tự tạo việc làm của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
  3. Đề xuất quan điểm, giải pháp thúc đẩy tự tạo việc làm của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015–2020, tầm nhìn 2030.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Câu hỏi thứ nhất: Các yếu tố cá nhân tác động đến tự tạo việc làm bao gồm những yếu tố nào? Mức độ tác động của các yếu tố đó như thế nào?
  2. Câu hỏi thứ hai: Hộ gia đình có vai trò gì đến tự tạo việc làm của lao động nông thôn? Mức độ tác động của các yếu tố đó như thế nào?
  3. Câu hỏi thứ ba: Cộng đồng địa phương tác động như thế nào đến tự tạo việc làm của lao động nông thôn? Mức độ ảnh hưởng đến tự tạo việc làm như thế nào?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình tự tạo việc làm của lao động nông thôn, trọng tâm là các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn khu vực nông thôn tỉnh Nghệ An.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu thực trạng giai đoạn 2010–2014; xây dựng phương hướng và đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2015–2020, tầm nhìn 2030.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung đánh giá 3 nhóm yếu tố cấu thành tác động đến khả năng tự tạo việc làm phi nông nghiệp của lao động nông thôn: (1) Nhóm yếu tố thuộc về cá nhân; (2) Nhóm yếu tố thuộc về hộ gia đình; (3) Nhóm yếu tố thuộc về môi trường cộng đồng bên ngoài.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước

Tác giả đã điểm lại hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước xoay quanh vấn đề việc làm và tự tạo việc làm:

  • Các nghiên cứu quốc tế về cơ chế kinh tế và thị trường: David Ricardo với mô hình thặng dư lao động nông nghiệp chỉ ra sự chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp; lý thuyết kinh tế học của N. Gregory Mankiw về quyết định gia nhập hay rút lui khỏi thị trường dựa trên tương quan giữa tổng doanh thu và tổng chi phí trong dài hạn; Sandeep Mohapatra, Scott Rozelle, Rachael Goodhue (2009) sử dụng mô hình Markov đánh giá vai trò của tự tạo việc làm tại nông thôn Trung Quốc như một chỉ báo của sự phát triển; Sana El Harbi và Gilles Grolleau phân tích dữ liệu bảng của 15 quốc gia OECD trong 18 năm về mối quan hệ giữa tự tạo việc làm và mức độ hạnh phúc/ổn định quốc gia; Timothy J. Forsyth (University of London) phân tích mô hình du lịch cộng đồng nông nghiệp tại Thái Lan; Lee Sang Mu nghiên cứu kinh nghiệm phong trào Saemaul Undong tại Hàn Quốc trong phát triển du lịch làng xã để thu hẹp khoảng cách nông thôn – thành thị.
  • Lý thuyết Kéo – Đẩy (Push – Pull) và Khung sinh kế bền vững: Thomas Reardon (1997) phân tích 10 yếu tố "đẩy" (tăng trưởng dân số, suy giảm độ phì của đất, rủi ro tự nhiên, thiếu vốn...) và 5 yếu tố "kéo" (thu nhập phi nông nghiệp cao hơn, khả năng sinh lời, rủi ro thấp, nhu cầu tiền mặt, cơ hội đầu tư) tác động đến quyết định tham gia hoạt động phi nông nghiệp của hộ nông dân. Khung sinh kế bền vững của DFID (2001) cung cấp công cụ phân tích 5 nguồn lực sinh kế: con người, tài chính, vật chất, xã hội và tự nhiên.
  • Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam: Ngô Quỳnh An (2012) xây dựng khung phân tích kết hợp vĩ mô và vi mô về khả năng tự tạo việc làm của thanh niên; Lê Xuân Bá cùng cộng sự (2006, 2009) làm rõ sự phân định giữa "làm công ăn lương" (wage employment) và "việc làm tự tạo" (self-employment) trong chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn; James (1998) dùng dữ liệu VLSS 1992–1993 phân tích chi phí cơ hội và vai trò truyền thống gia đình; Đỗ Thị Quỳnh Trang (2007) khảo sát xu hướng tự tạo việc làm ở khu vực phi chính thức và ảnh hưởng của số con đối với phụ nữ; Trần Thị Thu (1999, 2003) nghiên cứu tự tạo việc làm của lao động nữ phi chính thức và vai trò của trình độ chuyên môn trong bối cảnh công nghiệp hóa; Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung (2008) đo lường tác động của vốn con người (số năm đi học) tới tăng trưởng GDP; Thái Phúc Thành (2014) nghiên cứu vốn con người trong chiến lược sinh kế giảm nghèo; Trần Thu Hồng Ngọc (2009) kiểm định các nhân tố ảnh hưởng việc làm phi nông nghiệp tại huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long; Đoàn Minh Duệ (2009) khảo sát thực trạng đói nghèo miền Tây Nghệ An; Dự án FSPS (2010) khảo sát sinh kế của lao động nữ ven biển tỉnh Nghệ An; Phạm Quý Thọ (2000) nghiên cứu luồng di dân nông thôn ra Hà Nội.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động, phần lớn các nghiên cứu trước đây thường tiếp cận đơn lẻ ở cấp độ vĩ mô (thị trường lao động, chính sách) hoặc vi mô (đặc điểm cá nhân người lao động), hoặc tập trung vào nhóm đối tượng thanh niên, lao động đô thị. Chưa có công trình nào đánh giá một cách toàn diện và lượng hóa đồng thời mức độ tác động của cả 3 cấp độ (cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng) đối với xác suất tự tạo việc làm phi nông nghiệp của lao động nông thôn tại một địa bàn đặc thù có địa hình phức tạp, diện tích rộng và quy mô dân số lớn như tỉnh Nghệ An.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận, khái niệm và khung phân tích

  • Khái niệm việc làm và tự tạo việc làm: Vận dụng Điều 13 Bộ luật Lao động Việt Nam ("Việc làm là hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập mà không bị pháp luật cấm") và định nghĩa của ILO, luận án xác định việc làm nông thôn gồm 3 nhóm: làm công ăn lương, tự làm thu lợi nhuận, và lao động gia đình không hưởng lương. Tự tạo việc làm của lao động nông thôn được định nghĩa là: quá trình người lao động tự tổ chức, kết hợp sức lao động của bản thân và người khác với tư liệu sản xuất do mình sở hữu hoặc tự bỏ chi phí đầu tư nhằm tạo ra các hoạt động kinh tế mang lại nguồn thu nhập hợp pháp, tự chịu trách nhiệm và hưởng toàn bộ lợi nhuận thu được.
  • Hoạt động phi nông nghiệp: Kế thừa phân loại của WB (2004), Petter Lanjow & Rinku Murgai (2008) và Lê Xuân Bá (2006), luận án xác định hoạt động phi nông nghiệp nông thôn bao gồm toàn bộ các hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ diễn ra tại các cơ sở kinh tế và hộ gia đình nông thôn (ngoài các hoạt động thuần nông trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản).
  • Khung phân tích 3 cấp độ: Dựa trên Khung sinh kế bền vững của DFID và lý thuyết Kéo – Đẩy, tác giả xây dựng mô hình phân tích gồm 3 nhóm yếu tố:
    1. Cấp độ cá nhân: Độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn (số năm đi học), trình độ chuyên môn kỹ thuật, đào tạo nghề, sức khỏe, vốn tài chính tự có.
    2. Cấp độ hộ gia đình: Nguồn lực đất đai/vật chất, vốn tài chính gia đình (thu nhập ngoài làm việc, tiền gửi), vai trò định hướng của người thân, truyền thống nghề nghiệp gia đình, hỗ trợ tinh thần.
    3. Cấp độ cộng đồng: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật (hệ thống điện, giao thông nông thôn, chợ xã), chính sách hỗ trợ tín dụng và tiếp cận vốn vay ưu đãi, hệ thống thông tin và vai trò của các tổ chức đoàn thể xã hội.

Phương pháp thu thập dữ liệu

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010–2013, các báo cáo tổng kết kinh tế – xã hội của UBND tỉnh Nghệ An, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua điều tra bảng hỏi cấu trúc đối với mẫu người lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An, kết hợp thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu cá nhân và hộ gia đình (thể hiện qua 8 hộp trích dẫn nghiên cứu định tính về chuyên môn, học nghề, tiếp cận vốn, vai trò dòng họ và hỗ trợ đoàn thể).

Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

  • Thống kê mô tả: Sử dụng bảng tần số, tỷ lệ phần trăm (%), tính toán các đại lượng trung bình nhằm phản ánh thực trạng phân bố mẫu theo nghề nghiệp, độ tuổi, giới tính, học vấn, hạ tầng nông thôn.
  • Kiểm định phi tham số và phân tích phương sai: Áp dụng kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$) để đánh giá mối liên hệ giữa các biến định tính với xu hướng tự tạo việc làm phi nông nghiệp; sử dụng phân tích phương sai ANOVA (Bảng 3.16) để so sánh sai khác giữa các nhóm đối tượng.
  • Mô hình hồi quy Logistic nhị phân (Binary Logistic): Được sử dụng để đo lường xác suất quyết định lựa chọn tự tạo việc làm phi nông nghiệp ($Y = 1$) so với không tự tạo việc làm phi nông nghiệp ($Y = 0$) của người lao động nông thôn chịu tác động bởi tập hợp các biến độc lập thuộc 3 nhóm (cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng). Dạng hàm hồi quy:

$$\ln\left(\frac{P_i}{1 - P_i}\right) = \beta_0 + \sum_{k=1}^{m} \beta_k X_{ki}$$

Trong đó, $P_i$ là xác suất lao động nông thôn lựa chọn tự tạo việc làm phi nông nghiệp; $X_{ki}$ là các biến độc lập đo lường đặc điểm cá nhân, hộ gia đình và môi trường cộng đồng.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận của tự tạo việc làm của lao động nông thôn

Chương này dành 33 trang để hệ thống hóa cơ sở lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu. Tác giả làm rõ các khái niệm nền tảng: việc làm, tạo việc làm, giải quyết việc làm, việc làm tự tạo (self-employment) và việc làm tự do. Phân tích chi tiết 5 nguồn lực trong Khung sinh kế bền vững của DFID (con người, tài chính, vật chất, xã hội, tự nhiên) tương ứng với các điều kiện để lao động nông thôn khởi sự sinh kế.

Chương 1 đi sâu phân tích đặc điểm lao động nông thôn: phân bố rải rác trên địa bàn rộng; trình độ văn hóa, chuyên môn và tỷ lệ qua đào tạo thấp; tính chất lao động mang tính mùa vụ cao dẫn đến tình trạng nông nhàn lớn; tâm lý sản xuất truyền thống, thỏa mãn với sự "sẵn có việc làm" tại chỗ nhưng thực chất thu nhập thấp; rào cản về vốn và khả năng nắm bắt thông tin thị trường. Tác giả luận giải việc chuyển dịch sang hoạt động phi nông nghiệp là con đường tất yếu để nâng cao năng suất và hiệu quả sử dụng quỹ thời gian lao động ở nông thôn.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội địa bàn nghiên cứu và thiết kế phương pháp luận (23 trang). Nghệ An có diện tích tự nhiên $16.490,7 \text{ km}^2$ (chiếm 5,1% cả nước), dân số năm 2010 là $2.929$ nghìn người (chiếm 3,4% cả nước), gồm 17 huyện, 1 thành phố và 2 thị xã (479 xã, phường, thị trấn). Địa hình chia làm 2 vùng chính: vùng trung du miền núi chiếm 83,4% diện tích ($13.749,2 \text{ km}^2$), vùng đồng bằng ven biển chiếm 16,6% diện tích ($2.741,5 \text{ km}^2$).

Bảng: Một số chỉ tiêu tổng hợp kinh tế Nghệ An giai đoạn 2010 – 2013 (Trích Bảng 2.1)

TT Chỉ tiêu Đơn vị tính 2010 2011 2012 2013
1 GDP theo giá thực tế Triệu đồng 42.073 — — 72.073
2 Tốc độ phát triển hàng năm % 110,86 106,10 106,92 —
3 Cơ cấu kinh tế:
3.1 Nông lâm thủy sản % 28,96 30,17 28,03 25,08
3.2 Công nghiệp – xây dựng % 29,86 — — 32,xx
3.3 Dịch vụ % 39,55 36,21 39,12 43,46
3.4 Thuế nhập khẩu % 1,63 1,22 1,77 2,33
4 Thu nhập bình quân đầu người/tháng Nghìn đồng 919,60 1.155,00 1.373,61 1.571,60
5 Thu ngân sách nhà nước Triệu đồng 21.539 29.576 27.000 36.xxx
5.1 Thu bổ sung từ ngân sách TW Triệu đồng 12.498 (58,69%) — 18.000 (65,0%) —

Chương này cũng xác lập khung phân tích, quy trình xử lý số liệu sơ cấp và thứ cấp, thiết lập bảng mã hóa các biến độc lập đưa vào mô hình hồi quy Binary Logistic (Bảng 2.7) cùng quy trình kiểm định mô hình.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chiếm dung lượng lớn nhất trong luận án (53 trang), Chương 3 công bố các phát hiện thực nghiệm về thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến tự tạo việc làm của lao động nông thôn Nghệ An giai đoạn 2010–2013:

  • Thực trạng hoạt động tự tạo việc làm: Tỷ trọng lao động qua đào tạo nghề còn thấp; cơ cấu ngành nghề phi nông nghiệp chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực thương mại nhỏ lẻ, tiểu thủ công nghiệp truyền thống, dịch vụ sửa chữa cơ khí, xe máy, thợ nề xây dựng và chế biến nông sản tại chỗ.
  • Phân tích các nhóm yếu tố ảnh hưởng:
    1. Yếu tố cá nhân (Bảng 3.6, Hộp 3.1–3.3): Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật tác động thuận chiều rõ rệt đến năng lực tự tạo việc làm; nhóm tuổi 30–45 có khả năng tự tạo việc làm cao nhất do tích lũy đủ kinh nghiệm và vốn; nam giới chiếm ưu thế trong các nghề kỹ thuật, xây dựng, cơ khí trong khi nữ giới tập trung vào buôn bán nhỏ, dịch vụ gia đình; việc tham gia các khóa đào tạo nghề theo chương trình Nông thôn mới giúp tăng cơ hội khởi sự kinh doanh.
    2. Yếu tố hộ gia đình (Bảng 3.7, Hộp 3.4–3.5): Nguồn vốn hỗ trợ từ người thân, tài sản đất đai của hộ, thu nhập ngoài lương (tiền gửi từ người thân đi làm xa/xuất khẩu lao động) đóng vai trò then chốt bù đắp sự thiếu hụt vốn tín dụng chính thức; truyền thống sản xuất kinh doanh của gia đình có tác động thúc đẩy mạnh mẽ đến quyết định tự làm của các thành viên.
    3. Yếu tố cộng đồng (Bảng 3.8–3.15, Hộp 3.6–3.8): Cơ sở hạ tầng nông thôn (đường liên thôn, liên xã, hệ thống cấp điện, chợ nông thôn) tạo điều kiện giao thương; mạng lưới cung cấp dịch vụ tài chính vi mô và vốn vay chính sách của Ngân hàng Chính sách Xã hội là kênh tiếp cận quan trọng; khả năng tiếp cận thông tin thị trường thông qua các hội đoàn thể (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên) giúp giảm thiểu rủi ro khi lập nghiệp.
  • Kết quả kiểm định mô hình hồi quy Binary Logistic (Bảng 3.17): Định lượng hóa mức độ tác động của từng biến số độc lập; khẳng định sự kết hợp giữa năng lực vốn con người (học vấn, chuyên môn), điểm tựa tài chính từ hộ gia đình và sự trợ lực hạ tầng, thông tin từ cộng đồng làm tăng đáng kể xác suất lao động nông thôn tự tạo việc làm phi nông nghiệp.

Chương 4: Giải pháp nhằm thúc đẩy tự tạo việc làm của lao động nông thôn Nghệ An

Chương 4 (19 trang) đề xuất hệ thống giải pháp gắn với phương hướng phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015–2025, phân chia theo 3 nhóm đối tượng:

  • Nhóm giải pháp khuyến khích cá nhân lao động nông thôn (Mục 4.3.1): Nâng cao nhận thức, thay đổi tư duy thụ động trông chờ vào sự bố trí của nhà nước; chủ động học nghề, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật gắn với nhu cầu thị trường; tích lũy vốn và nâng cao kỹ năng quản lý sản xuất kinh doanh nhỏ.
  • Nhóm giải pháp phát huy động lực từ hộ gia đình (Mục 4.3.2): Tăng cường huy động các nguồn lực tài chính nội bộ dòng họ và gia đình; sử dụng hiệu quả nguồn kiều hối, tiền gửi từ lao động di cư để tái đầu tư vào các ngành nghề phi nông nghiệp tại chỗ; phát huy kinh nghiệm và truyền thống nghề nghiệp gia đình.
  • Nhóm giải pháp phát huy sức mạnh cộng đồng và quản lý nhà nước (Mục 4.3.3): Đổi mới cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề, tiểu thủ công nghiệp; tiếp tục hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật (giao thông, mạng lưới điện, viễn thông, chợ nông thôn); đa dạng hóa các sản phẩm tài chính tín dụng vi mô, đơn giản hóa thủ tục vay vốn cho lao động nông thôn; tăng cường vai trò của các tổ chức đoàn thể (Hội Nông dân, Phụ nữ, Đoàn thanh niên) trong việc cung cấp thông tin thị trường, tư vấn nghề nghiệp và chuyển giao kỹ thuật.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về việc làm, tự tạo việc làm và việc làm phi nông nghiệp trong khu vực nông thôn; phân định rõ sự khác biệt giữa tự làm (self-employment), làm công ăn lương và làm việc tự do trong điều kiện kinh tế chuyển đổi ở Việt Nam.
  2. Xây dựng khung phân tích toàn diện tích hợp Khung sinh kế bền vững (DFID) và lý thuyết Kéo – Đẩy (Reardon), phân chia các yếu tố ảnh hưởng đến tự tạo việc làm phi nông nghiệp của lao động nông thôn thành 3 cấp độ tương tác: cá nhân, hộ gia đình và môi trường cộng đồng bên ngoài.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh thực nghiệm chi tiết về thực trạng lao động, việc làm và tự tạo việc làm phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010–2013.
  2. Vận dụng thành công mô hình hồi quy Logistic nhị phân (Binary Logistic) kết hợp kiểm định thống kê ANOVA và Chi-bình phương ($\chi^2$) để lượng hóa mức độ tác động của các biến số thuộc cá nhân (học vấn, chuyên môn, đào tạo nghề, sức khỏe), hộ gia đình (tài sản, thu nhập ngoài làm việc, truyền thống) và cộng đồng (hạ tầng, tín dụng, thông tin đoàn thể) tới xác suất tự tạo việc làm phi nông nghiệp.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ ở 3 cấp độ (cá nhân người lao động, kinh tế hộ gia đình, chính quyền và đoàn thể cộng đồng) có giá trị thực tiễn đối với công tác giải quyết việc làm và giảm nghèo tại tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015–2020, tầm nhìn 2030.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án: Phạm vi khảo sát không gian chỉ giới hạn tại khu vực nông thôn tỉnh Nghệ An; dữ liệu điều tra sơ cấp và thứ cấp tập trung chủ yếu trong mốc thời gian 2010–2014; nội dung nghiên cứu chỉ tập trung vào phân mảng hoạt động phi nông nghiệp, chưa bao quát sâu mảng tự tạo việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hoặc kinh tế trang trại thuần nông.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng phạm vi khảo sát so sánh liên tỉnh tại khu vực Bắc Trung Bộ hoặc đối sánh giữa hai vùng sinh thái đặc trưng (tiểu vùng đồng bằng ven biển và tiểu vùng trung du miền núi phía Tây Nghệ An); đánh giá tính bền vững và mức thu nhập thực tế dài hạn của các mô hình kinh tế phi nông nghiệp tự tạo của hộ gia đình nông thôn.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Luận án là tài liệu tham khảo cho chuyên ngành Quản trị nhân lực, Kinh tế lao động, Kinh tế phát triển; cung cấp khung phân tích 3 cấp độ và quy trình ứng dụng mô hình Binary Logistic trong phân tích hành vi lựa chọn kinh tế của người lao động.
  • Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ thực tiễn cho UBND tỉnh Nghệ An, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách Xã hội trong việc xây dựng quy hoạch đào tạo nghề, chính sách tín dụng vi mô, phát triển hạ tầng nông thôn mới và hỗ trợ khởi sự kinh doanh nhỏ tại các vùng nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa "tự tạo việc làm của lao động nông thôn" như thế nào?

Về mặt lý luận, tự tạo việc làm của lao động nông thôn là quá trình người lao động tự tổ chức kết hợp sức lao động của bản thân và người khác với tư liệu sản xuất mà họ sở hữu hoặc tự bỏ chi phí đầu tư nhằm đem lại thu nhập hợp pháp. Trong thực tế, đây là quá trình người lao động tự tạo ra, chịu trách nhiệm tổ chức, thực hiện hoạt động lao động, tự đầu tư chi phí và hưởng toàn bộ lợi nhuận thu được tương ứng với chi phí đã đầu tư.

2. Mô hình định lượng nào được sử dụng để lượng hóa các yếu tố ảnh hưởng?

Luận án sử dụng mô hình hồi quy Logistic nhị phân (Binary Logistic Regression) kết hợp kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$) và kiểm định phân tích phương sai ANOVA để đo lường xác suất quyết định lựa chọn tự tạo việc làm phi nông nghiệp so với không tự tạo việc làm phi nông nghiệp của lao động nông thôn.

3. Luận án phân chia các yếu tố ảnh hưởng đến tự tạo việc làm thành những nhóm nào?

Các yếu tố được chia thành 3 nhóm cấp độ:

  • Nhóm cấp độ cá nhân: Tuổi, giới tính, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, đào tạo nghề, sức khỏe, vốn tài chính bản thân.
  • Nhóm cấp độ hộ gia đình: Nguồn lực vật chất, đất đai, thu nhập ngoài làm việc (tiền gửi kiều hối, trợ cấp), vai trò định hướng của người thân, hỗ trợ tinh thần và truyền thống gia đình.
  • Nhóm cấp độ cộng đồng: Điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng (điện, giao thông, chợ nông thôn), cơ chế chính sách địa phương, khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính tín dụng và sự chia sẻ thông tin từ các tổ chức đoàn thể.

4. Áp lực về việc làm tại tỉnh Nghệ An trong giai đoạn nghiên cứu được ghi nhận ra sao?

Trong giai đoạn nghiên cứu, dân số và lực lượng lao động Nghệ An gia tăng nhanh, mỗi năm bổ sung hơn 30.000 người vào lực lượng lao động. Nhu cầu giải quyết việc làm hàng năm lên tới 34.000 người. Một bộ phận lớn nông dân bị thu hồi đất cho các dự án công nghiệp không còn đất canh tác, dẫn đến tình trạng thiếu việc làm, việc làm bấp bênh và làn sóng di cư tự do vào các tỉnh phía Nam.

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào?

Tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp chính: (1) Nhóm giải pháp khuyến khích cá nhân người lao động tự nâng cao trình độ, học nghề và đổi mới nhận thức; (2) Nhóm giải pháp phát huy nguồn lực vật chất, vốn và truyền thống từ hộ gia đình; (3) Nhóm giải pháp từ phía cộng đồng bao gồm hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, mở rộng tín dụng ưu đãi và nâng cao năng lực hỗ trợ thông tin của các tổ chức đoàn thể địa phương.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Hồ Thị Diệu Ánh đã giải quyết vấn đề tự tạo việc làm phi nông nghiệp của lao động nông thôn tại tỉnh Nghệ An thông qua việc kết hợp cơ sở lý luận sinh kế bền vững với phân tích định lượng mô hình Binary Logistic. Công trình làm sáng tỏ thực trạng chuyển dịch lao động, đo lường mức độ tác động đa chiều từ 3 cấp độ cá nhân, hộ gia đình và môi trường cộng đồng địa phương trong giai đoạn 2010–2013/2014. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính hệ thống, cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác đào tạo nghề, xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế nông thôn Nghệ An đến năm 2020 và tầm nhìn 2030.