Tự Tạo Việc Làm Của Lao Động Nông Thôn Tại Nghệ An

Luận án tiến sĩ phân tích tự tạo việc làm của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh nghệ an, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới cho ngành.

Chuyên ngành

Quản Trị Nhân Lực (Kinh Tế Lao Động)

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2015

215
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỰ TẠO VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

1.1. Tổng quan nghiên cứu

1.2. Các nghiên cứu về tự tạo việc làm

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tự tạo việc làm

1.4. Cơ sở lý luận tự tạo việc làm của lao động nông thôn

1.5. Việc làm, tạo việc làm, giải quyết việc làm và tự tạo việc làm

1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến tự tạo việc làm của lao động nông thôn

1.7. Khái niệm và đặc điểm lao động nông thôn

1.8. Hoạt động phi nông nghiệp

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.2. Vị trí địa lý, địa hình, tài nguyên thiên nhiên tỉnh Nghệ An

2.3. Tình hình phát triển kinh tế xã hội

2.4. Tình hình phát triển dân số

2.5. Các giả thuyết khoa học và khung phân tích

2.5.1. Các giả thuyết khoa học

2.5.2. Khung lý thuyết phân tích

2.6. Quy trình nghiên cứu

2.7. Các nguồn số liệu, tư liệu được sử dụng

2.7.1. Số liệu thứ cấp

2.7.2. Số liệu sơ cấp

2.8. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

2.8.1. Mục tiêu phân tích số liệu

2.8.2. Phương pháp phân tích

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thực trạng tự tạo việc làm của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 - 2013

3.2. Các hoạt động tự tạo việc làm của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An

3.3. Kết quả hoạt động tự tạo việc làm của lao động nông thôn

3.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến tự tạo việc làm của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An

3.4.1. Các yếu tố thuộc về cá nhân lao động nông thôn

3.4.2. Các yếu tố thuộc về hộ gia đình

3.4.3. Các yếu tố thuộc về cộng đồng

3.5. Đánh giá mức độ tác động bằng mô hình hồi quy Logistic

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY TỰ TẠO VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN NGHỆ AN

4.1. Phương hướng phát triển kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015-2025

4.2. Các quan điểm tự tạo việc làm của lao động nông thôn Nghệ An

4.3. Các giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình tự tạo việc làm của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An

4.3.1. Nhóm giải pháp khuyến khích cá nhân lao động nông thôn tự tạo việc làm

4.3.2. Nhóm giải pháp phát huy động lực tự tạo việc làm của lao động nông thôn từ hộ gia đình

4.3.3. Nhóm giải pháp phát huy sức mạnh cộng đồng thúc đẩy tự tạo việc làm của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tự Tạo Việc Làm Nông Thôn Nghệ An Hiện Nay

Nguồn nhân lực nông thôn đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Phát triển nguồn nhân lực nông thôn là tăng giá trị con người về đạo đức, học tập, lao động, trí tuệ, kỹ năng và thể lực. Lao động nông thôn tham gia vào các ngành kinh tế như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Tạo việc làm cho lao động nông thôn là yêu cầu tất yếu của chính quyền địa phương. Tuy nhiên, cần tránh cơ chế bao cấp, tạo động lực cho người lao động chủ động tìm kiếm việc làm chất lượng hơn. Phát triển kinh tế gắn liền với xóa đói giảm nghèo, giảm thất nghiệp, và giảm bất bình đẳng xã hội. Tăng cơ hội việc làm và thu nhập cho người lao động góp phần quan trọng vào quá trình giảm nghèo đói, đặc biệt ở khu vực nông thôn. Cần tạo môi trường thuận lợi để lao động nông thôn chủ động tiếp cận và tự tạo việc làm, từ đó nâng cao thu nhập.

1.1. Đặc Điểm Việc Làm Nông Thôn và Ảnh Hưởng Đến Tự Tạo Việc Làm

Việc làm nông thôn có những đặc điểm riêng biệt ảnh hưởng đến quá trình tạo việc làm và tự tạo việc làm. Theo [39, tr.], tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất, sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động, đem lại thu nhập cho người lao động. Hiện nay, nhiều quan điểm cho rằng tạo việc làm cho lao động nông thôn là yêu cầu tất yếu của chính quyền địa phương. Tuy nhiên, cách tiếp cận này cần thay đổi để tránh sự ỷ lại và khuyến khích sự chủ động của người lao động.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Tự Tạo Việc Làm Trong Phát Triển Nông Thôn

Tự tạo việc làm không chỉ là giải pháp tạm thời khi thiếu việc làm mà còn là động lực để lao động nông thôn chủ động tạo ra việc làm, tăng thu nhập và góp phần xóa đói giảm nghèo. Nghệ An, sau gần 30 năm đổi mới, tỷ lệ hộ nông dân giảm, một bộ phận chuyển sang dịch vụ, thủ công nghiệp hoặc di cư. Thu nhập của người dân còn thấp, đặc biệt là hộ thuần nông. Thói quen sản xuất nhỏ lẻ hạn chế sức cạnh tranh. Khả năng tích lũy kinh tế của nông dân ít, gây khó khăn cho tái sản xuất. Vấn đề lao động và việc làm ở nông thôn Nghệ An còn nhiều khó khăn cần giải quyết.

II. Thực Trạng Tự Tạo Việc Làm Cho Lao Động Nông Thôn Nghệ An

Tỷ lệ dân số sống ở vùng nông thôn giảm chậm, một bộ phận không còn là nông dân do mất đất canh tác cho các dự án công nghiệp. Tình trạng thiếu việc làm và thu nhập thấp vẫn diễn ra. Trong thời gian tới, dân số và lao động Nghệ An tiếp tục tăng, tạo áp lực lớn cho công tác giải quyết việc làm. Khả năng đầu tư phát triển tạo việc làm tại chỗ mất cân đối so với tốc độ gia tăng lực lượng lao động. Chuyển dịch cơ cấu lao động theo vùng và ngành diễn ra chậm. Hoạt động hỗ trợ trực tiếp cho người lao động để tạo việc làm mới hoặc tự tạo việc làm còn hạn chế, nhất là hệ thống thông tin thị trường lao động. Tình trạng lao động rời quê hương tìm kiếm việc làm ở các địa phương khác diễn ra phổ biến.

2.1. Khó Khăn Trong Tạo Việc Làm Ổn Định Tại Địa Phương

Do không tạo được việc làm ổn định tại địa phương, tình trạng lao động rời xa quê hương tìm kiếm công việc ở nhiều địa phương khác nhau diễn ra tương đối phổ biến. Vấn đề tự tạo việc làm không nên coi là giải pháp tạm thời khi thiếu việc làm, góp phần giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp, mà nên khuyến khích đặc biệt lao động nông thôn để họ chủ động tạo được việc làm, tăng thu nhập góp phần xóa đói giảm nghèo.

2.2. Áp Lực Giải Quyết Việc Làm Do Tăng Dân Số và Lao Động

Dân số và lao động Nghệ An tiếp tục tăng ổn định, hằng năm có hơn 30 nghìn người được bổ sung vào lực lượng lao động. Dự báo mỗi năm số lao động cần giải quyết việc làm lên tới 3,4 - 4 vạn người và một bộ phận lao động nông nghiệp bị thu hồi đất, lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị có nhu cầu về việc làm đã tạo sức ép lớn cho công tác giải quyết việc làm, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm vẫn diễn ra khá căng thẳng.

III. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Tới Tự Tạo Việc Làm Nông Thôn Nghệ An

Luận án xác định các yếu tố thuộc về cá nhân sẽ góp phần làm thay đổi tư duy tự tạo việc làm của lao động nông thôn. Tác động của các yếu tố thuộc về cá nhân (trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, sức khỏe...) sẽ làm thay đổi khả năng tự tạo việc làm phi nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Nâng cao vai trò hộ gia đình, mối quan hệ cộng đồng và dòng họ sẽ góp phần làm thúc đẩy tự tạo việc làm phi nông nghiệp của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Phát huy các yếu tố cộng đồng bao gồm đổi mới cơ chế chính sách, đa dạng hóa các dịch vụ tài chính, nâng cao khả năng chia sẻ thông tin từ các tổ chức đoàn thể địa phương sẽ tác động mạnh mẽ đến tự tạo việc làm phi nông nghiệp của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

3.1. Yếu Tố Cá Nhân Trình Độ Kỹ Năng và Sức Khỏe Lao Động

Các yếu tố cá nhân như trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, sức khỏe đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi tư duy và khả năng tự tạo việc làm của lao động nông thôn. Việc nâng cao trình độ và kỹ năng giúp người lao động tiếp cận với các cơ hội việc làm mới và tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có giá trị cao hơn.

3.2. Vai Trò Của Hộ Gia Đình và Mạng Lưới Cộng Đồng

Hộ gia đình và mạng lưới cộng đồng có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và thúc đẩy tự tạo việc làm. Mối quan hệ gia đình, dòng họ và cộng đồng có thể cung cấp nguồn vốn, kiến thức, kinh nghiệm và các mối quan hệ cần thiết để khởi nghiệp và phát triển kinh doanh. Sự hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng giúp giảm thiểu rủi ro và tăng khả năng thành công.

3.3. Tác Động Của Chính Sách và Dịch Vụ Hỗ Trợ Từ Cộng Đồng

Các yếu tố cộng đồng như cơ chế chính sách, dịch vụ tài chính và khả năng chia sẻ thông tin từ các tổ chức đoàn thể địa phương có tác động mạnh mẽ đến tự tạo việc làm. Chính sách hỗ trợ, nguồn vốn vay ưu đãi và thông tin thị trường giúp người lao động có thêm động lực và điều kiện để khởi nghiệp và phát triển kinh doanh.

IV. Giải Pháp Thúc Đẩy Tự Tạo Việc Làm Cho Nông Dân Nghệ An

Sau khi luận án được hình thành thì tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến tự tạo việc làm trên địa bàn tỉnh Nghệ An được làm rõ tạo tiền đề cho việc thúc đẩy tự tạo việc làm của lao động nông thôn trong giai đoạn tới. Kết quả sẽ có ý nghĩa quan trọng đóng góp vào xóa đói giảm nghèo địa phương giai đoạn 2015 – 2020 tầm nhìn 2030 dưới cả giác độ mục tiêu phát triển kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội.

4.1. Nâng Cao Trình Độ Học Vấn và Kỹ Năng Nghề Cho Lao Động

Đầu tư vào giáo dục và đào tạo nghề là giải pháp quan trọng để nâng cao khả năng tự tạo việc làm của lao động nông thôn. Cần có các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thị trường và đặc điểm của từng địa phương. Việc trang bị kiến thức và kỹ năng giúp người lao động tiếp cận với các công việc có thu nhập cao hơn và tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng.

4.2. Hỗ Trợ Vốn và Tiếp Cận Tín Dụng Cho Khởi Nghiệp Nông Thôn

Khó khăn trong tiếp cận vốn là một trong những rào cản lớn đối với tự tạo việc làm. Cần có các chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi, đơn giản hóa thủ tục vay vốn và tạo điều kiện cho người lao động tiếp cận với các dịch vụ tài chính. Việc có đủ vốn giúp người lao động khởi nghiệp và mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh.

4.3. Phát Triển Thị Trường Lao Động và Kết Nối Cung Cầu Việc Làm

Cần phát triển thị trường lao động nông thôn, tạo điều kiện cho người lao động tìm kiếm việc làm và kết nối với các doanh nghiệp, nhà tuyển dụng. Việc cung cấp thông tin thị trường lao động, tổ chức các phiên giao dịch việc làm và hỗ trợ tư vấn nghề nghiệp giúp người lao động có thêm cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp.

V. Nghiên Cứu Tự Tạo Việc Làm Đóng Góp Vào Phát Triển Nghệ An

Luận án được thực hiện có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn về tự tạo việc làm của lao động nông thôn. Trong đó đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tự tạo việc làm, tập trung khai thác các yếu tố ảnh hưởng đến tự tạo việc làm của lao động nông thôn. Xây dựng các nhóm yếu tố ảnh hưởng tự tạo việc làm phi nông nghiệp của lao động nông thôn theo ba cấp độ khác nhau (cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng). Các kết quả phân tích đã cho thấy cách nhìn toàn diện về các yếu tố ảnh hưởng tự tạo việc làm phi nông nghiệp của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An

5.1. Hệ Thống Hóa Lý Luận Về Tự Tạo Việc Làm Nông Thôn

Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tự tạo việc làm, tập trung khai thác các yếu tố ảnh hưởng đến tự tạo việc làm của lao động nông thôn. Điều này cung cấp một khung phân tích toàn diện và sâu sắc về vấn đề này, giúp các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu có cái nhìn rõ ràng hơn về các yếu tố tác động đến tự tạo việc làm.

5.2. Phân Tích Toàn Diện Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Tự Tạo Việc Làm

Luận án xây dựng các nhóm yếu tố ảnh hưởng tự tạo việc làm phi nông nghiệp của lao động nông thôn theo ba cấp độ khác nhau (cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng). Các kết quả phân tích đã cho thấy cách nhìn toàn diện về các yếu tố ảnh hưởng tự tạo việc làm phi nông nghiệp của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

VI. Xu Hướng và Tương Lai Tự Tạo Việc Làm Nông Thôn Nghệ An

Luận án đo lường xác suất tự tạo việc làm phi nông nghiệp so với không tự tạo việc làm phi nông nghiệp khi có sự tác động của các nhóm yếu tố bằng mô hình Binary logictics. Từ đó luận án xác định mức độ tác động của các yếu tố đến khả năng tự tạo việc làm phi nông nghiệp. Sau khi thực hiện các phân tích từ thực trạng luận án đã xác định yếu tố thuộc về cá nhân sẽ góp phần làm thay đổi tư duy tự tạo việc làm của lao động nông thôn.

6.1. Đo Lường Mức Độ Tác Động Của Các Yếu Tố Bằng Mô Hình

Luận án đo lường xác suất tự tạo việc làm phi nông nghiệp so với không tự tạo việc làm phi nông nghiệp khi có sự tác động của các nhóm yếu tố bằng mô hình Binary logictics. Từ đó luận án xác định mức độ tác động của các yếu tố đến khả năng tự tạo việc làm phi nông nghiệp.

6.2. Yếu Tố Cá Nhân Thay Đổi Tư Duy Tự Tạo Việc Làm

Sau khi thực hiện các phân tích từ thực trạng luận án đã xác định yếu tố thuộc về cá nhân sẽ góp phần làm thay đổi tư duy tự tạo việc làm của lao động nông thôn. Tác động của các yếu tố thuộc về cá nhân (trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, sức khỏe...) sẽ làm thay đổi khả năng tự tạo việc làm phi nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

08/06/2025
Luận án tiến sĩ tự tạo việc làm của lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh nghệ an

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỰ TẠO VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về tự tạo việc làm Ở Việt Nam, thuật ngữ “tự tạo việc làm” thường xuất hiện khi đề cập tới khuyến khích khởi sự các doanh nghiệp tư nhân hay đơn giản chỉ là một hoạt động sản xuất kinh doanh buôn bán nhỏ nhằm kiếm sống - doanh nghiệp vi mô, hoặc tạo lập các hoạt động kinh tế của hộ gia đình, trang trại gia đình. Các đối tượng được khuyến khích hoặc hỗ trợ “tự tạo việc làm” trong các chính sách của nhà nước hiện nay phần nhiều là thanh niên, phụ nữ, người nghèo, người mất việc làm, người tàn tật.

Luận án của Ngô Quỳnh An (2012) đã đưa ra nhận định “về mặt lý luận, tự tạo việc làm là quá trình người lao động tự tổ chức kết hợp sức lao động của bản thân và những người khác với tư liệu sản xuất mà họ sở hữu hay tự bỏ chi phí đầu tư nhằm đem lại thu nhập hợp pháp”. Trong thực tế, tự tạo việc làm của người lao động là quá trình họ tự tạo ra, chịu trách nhiệm tổ chức và thực hiện các hoạt động lao động đem lại nguồn thu nhập hợp pháp, mà với những hoạt động này người lao động tự đầu tư chi phí và hưởng toàn bộ lợi nhuận thu được ứng với chi phí họ đầu tư” [18, tr. Mặc dù các thuật ngữ này đã được sử dụng khá phổ biến trong thực tế ở Việt Nam, nhưng trong công trình của Ngô Quỳnh An lần đầu tiên các khái niệm sâu và đầy đủ về “tự tạo việc làm” và “khả năng tự tạo việc làm” được xây dựng cùng với các tiêu chí nghiên cứu và đánh giá cụ thể. Trong luận án của mình tác giả đã khắc phục được hạn chế khi chỉ sử dụng cách tiếp cận vĩ mô hay vi mô trong nghiên cứu bằng cách kết hợp cả hai cách tiếp cận này để có thể xem xét khá đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng tự tạo việc làm của thanh niên như: đặc điểm thị trường lao động chung, đặc điểm lao động việc làm của thanh niên, cầu lao động thanh niên 7 (cách tiếp cận vĩ mô); và các yếu tố tác động tới cung và cầu lao động thanh niên như vốn con người, vốn xã hội và các đặc điểm nhân khẩu học và gia đình khác (cách tiếp cận vi mô).

Phân loại vấn đề tự tạo việc làm thành “làm công ăn lương” và “việc làm tự tạo” (wage employment và self-employment) được đề cập trong nghiên cứu của Lê Xuân Bá (2006). Cách phân loại việc làm này có ý nghĩa rất quan trọng khi chúng ta xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến việc chuyển dịch cơ cấu lao động việc làm ở nông thôn, cũng như khi đưa ra các giải pháp để khuyến khích chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao khả năng tự tạo việc làm do bản chất các hoạt động này là khác nhau. Trong báo cáo cũng làm rõ vấn đề các hoạt động được xem như là “việc làm tự tạo”, liên quan đến việc tự quản lý và sở hữu một cơ sở sản xuất các hàng hoá và dịch vụ. Người mua loại lao động này không thể đưa ra các điều khoản trực tiếp về sản phẩm.

Ví dụ, những người có các xưởng sản xuất, cửa hàng cửa hiệu…họ chỉ có trách nhiệm đối với các kết quả với chính bản thân họ [14, tr. Lý thuyết kinh tế học hiện đại của Mankiw, hành vi người sản xuất hay quyết định của các doanh nghiệp khi gia nhập hoặc rời bỏ thị trường được dựa trên cơ sở so sánh giữa tổng doanh thu và tổng chi phí dự tính, nếu tổng doanh thu lớn hơn tổng chi phí bỏ ra trong dài hạn, một người sẽ quyết định khởi sự công việc của riêng mình. Lý thuyết này mang tính chất mô tả các quyết định tĩnh, không giải thích rõ ràng về quá trình tự tạo việc làm [62]. Nghiên cứu về mô hình thặng dư lao động - David Ricardo đã đưa ra giả định “ việc lợi tức nông nghiệp giảm dần theo thời gian sẽ tạo ra “thặng dư lao động” và người ta có thể rút thặng dư lao động ra khỏi nông nghiệp, chuyển sang công nghiệp mà không làm thay đổi tổng sản lượng nông nghiệp cũng như tăng tiền lương ở hai khu vực”.

Với kết luận này cho thấy thặng dư lao động là yếu tố thúc đẩy sự chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp [3,tr. Tự tạo việc làm tác động cho sự phát triển là vấn đề được xem xét ở nông thôn Trung Quốc. Công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Sandeep Mohapatra, Scott Rozelle, Rachael Goodhue (2009) đã đánh giá vai trò của các quá trình tự tạo 8 việc làm ở nông thôn của Trung Quốc. Sự gia tăng của công việc tự thúc đẩy kinh doanh và là một dấu hiệu của sự phát triển.

Sử dụng dữ liệu về lịch sử thị trường lao động trong 20 năm của một mẫu đại diện quốc gia của các cá nhân, cung cấp bằng chứng mô tả rằng tự tạo việc làm ở nông thôn Trung Quốc, không giống như ở một số nơi khác, là một dấu hiệu của sự phát triển. Sử dụng mô hình Markov trong phân tích tự tạo việc làm ở nông thôn Trung Quốc [72]. Vấn đề tự tạo việc làm của người lao động tác động đến ổn định quốc gia, được khẳng định trong công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Sana El Harbia, Gilles Grolleaub. Công trình nghiên cứu này nhận thấy tự tạo việc làm ảnh hưởng sự phát triển của cá nhân ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực.

Thay vì xem xét những ảnh hưởng hạnh phúc ở mức độ cá nhân, công trình nghiên cứu đánh giá tự tạo việc làm hiệu ứng lây lan và ảnh hưởng hạnh phúc trong nước của cá nhân. Sử dụng bảng điều khiển phân tích dữ liệu cho 15 nước OECD trong khoảng thời gian 18 năm, nghiên cứu điều tra thực nghiệm các quốc gia với mức độ cao hơn của công việc tự làm hạnh phúc hơn [71]. Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khung sinh kế bền vững (Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework) (2001), để xác định và thiết kế các hoạt động hỗ trợ của mình. Theo khung này, các hộ gia đình, cá nhân đều có phương thức kiếm sống (chiến lược sinh kế) dựa vào những nguồn lực sinh kế sẵn có (5 loại nguồn lực) trong một bối cảnh chính sách và thể chế nhất định ở địa phương.

Những nhân tố này cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài và các tác động mang tính thời vụ. Sự lựa chọn về chiến lược sinh kế của các hộ gia đình dựa trên những nguồn lực sinh kế hiện tại là kết quả của sự tương tác giữa các nhóm yếu tố này [37, tr. Mô hình tạo việc làm của Hàn Quốc, khi cư dân nông thôn giảm đi, lao động nông thôn già đi cộng với chi phí SXNN ngày càng tăng và khoảng cách thu nhập nông thôn - thành thị ngày càng nới rộng, nhu cầu phát triển nông thôn đứng trước thách thức vô cùng lớn. Hàn Quốc giải bài toán này bằng giải pháp phát triển du lịch làng - du lịch nông thôn, kéo gần thành thị với cuộc sống nông thôn.

Đây là 9 một trong những kinh nghiệm đối với sự phát triển nông thôn Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện bởi Lee Sang Mu, Cố vấn đặc biệt của Chính phủ về Nông- lâm- ngư nghiệp, “Phát triển nông thôn - Từ điểm nhìn Hàn Quốc: Phong trào Saemaul Undon” [11]. Vấn đề nghiên cứu về tạo việc làm được nhiều nghiên cứu nước ngoài quan tâm trong đó có một số nghiên cứu có điều kiện tương tự phù hợp với Việt Nam như công trình “Tourism and agricultural development in thailand”, của nhóm tác giả Timothy J. Forsyth, University of London, UK Cho thấy việc thông qua du lịch cộng đồng nông nghiệp là một trong các biện pháp tạo việc làm phù hợp.

Nghiên cứu thực hiện trong một nổi bật "đồi bộ lạc" ngôi làng ở miền bắc Thái Lan chỉ ra rằng du lịch cộng đồng nông nghiệp là mô hình cần thiết giải quyết việc làm hộ gia đình. Tuy nhiên, hộ gia đình đã thông qua du lịch tăng tần số canh tác bằng cách thuê lao động nông nghiệp và phân chia đất trong phạm vi gia đình để tối đa hóa việc sử dụng đất [70]. Lý thuyết “Lực đẩy” đưa ra giả thuyết rằng, những người tự tạo việc làm không phải có phẩm chất gì khác với những người làm công mà chỉ là phản ứng tạm thời của họ với hoàn cảnh khó tìm kiếm việc làm trong thời kỳ suy giảm kinh tế. Đối lập với lý thuyết “lực đẩy” là lý thuyết “lực hút”, với giả thuyết cho rằng những người khởi sự doanh nghiệp là những người có phẩm chất và kiến thức kỹ năng đặc biệt nào đó thúc đẩy họ lựa chọn và theo đuổi tự tạo việc làm [18, tr.

Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu chú ý tới một mô hình khác về các yếu tố tác động tới quyết định sự chuyển dịch cơ cấu lao động. Mô hình này cho rằng hộ gia đình quyết định tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp là do hai nhóm yếu tố khác nhau “kéo” và “đẩy” lao động vào hoạt động phi nông nghiệp. Reardon (1997) đưa ra các nhân tố “đẩy” sau đây: (1) tăng trưởng dân số, (2) tăng sự khan hiếm của đất có thể sản xuất, (3) giảm khả năng tiếp cận với đất phì nhiêu, (4) giảm độ màu mỡ và năng suất của đất, (5) giảm các nguồn lực tự nhiên cơ bản, (6) giảm doanh thu đối với nông nghiệp, (7) tăng nhu cầu tiền trong cuộc sống, (8) các sự kiện và các cú sốc xảy ra, (9) thiếu khả năng tiếp cận đối với các thị trường 10 đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, (10) thiếu vắng các thị trường tài chính nông thôn. Hơn nữa, ông cũng gợi ý các nhân tố “kéo” sau đây: (1) doanh thu cao hơn của lao động phi nông nghiệp, (2) doanh thu cao hơn khi đầu tư vào lĩnh vực phi nông nghiệp, (3) rủi ro thấp hơn của khu vực phi nông nghiệp so với khu vực nông nghiệp, (4) tạo ra tiền mặt để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của gia đình và (5) nhiều cơ hội đầu tư.

Tóm lại, nhân tố “kéo” đưa ra những sự hấp dẫn của khu vực phi nông nghiệp đối với người nông dân. Nhân tố đẩy liên quan đến áp lực hoặc các hạn chế của khu vực nông nghiệp buộc nông dân tìm kiếm thu nhập khác nếu họ muốn cải thiện các điều kiện sống của mình [14].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tự Tạo Việc Làm Cho Lao Động Nông Thôn Tại Nghệ An: Nghiên Cứu và Giải Pháp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp và giải pháp nhằm tạo ra việc làm cho lao động nông thôn tại Nghệ An. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển kỹ năng nghề nghiệp và khuyến khích sự sáng tạo trong việc tự tạo việc làm. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về các mô hình kinh tế, các chương trình đào tạo nghề, và các chính sách hỗ trợ từ chính phủ, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động nông thôn.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế một số giải pháp tăng cường công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn, nơi cung cấp các giải pháp cụ thể cho việc đào tạo nghề. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hcmute đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Bình Định cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách nâng cao hiệu quả đào tạo nghề. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ hcmute giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại trường TCN Đông Sài Gòn sẽ cung cấp thêm thông tin về chất lượng đào tạo nghề, một yếu tố quan trọng trong việc tạo ra việc làm bền vững cho lao động nông thôn.