Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỰ TẠO VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về tự tạo việc làm Ở Việt Nam, thuật ngữ “tự tạo việc làm” thường xuất hiện khi đề cập tới khuyến khích khởi sự các doanh nghiệp tư nhân hay đơn giản chỉ là một hoạt động sản xuất kinh doanh buôn bán nhỏ nhằm kiếm sống - doanh nghiệp vi mô, hoặc tạo lập các hoạt động kinh tế của hộ gia đình, trang trại gia đình. Các đối tượng được khuyến khích hoặc hỗ trợ “tự tạo việc làm” trong các chính sách của nhà nước hiện nay phần nhiều là thanh niên, phụ nữ, người nghèo, người mất việc làm, người tàn tật.
Luận án của Ngô Quỳnh An (2012) đã đưa ra nhận định “về mặt lý luận, tự tạo việc làm là quá trình người lao động tự tổ chức kết hợp sức lao động của bản thân và những người khác với tư liệu sản xuất mà họ sở hữu hay tự bỏ chi phí đầu tư nhằm đem lại thu nhập hợp pháp”. Trong thực tế, tự tạo việc làm của người lao động là quá trình họ tự tạo ra, chịu trách nhiệm tổ chức và thực hiện các hoạt động lao động đem lại nguồn thu nhập hợp pháp, mà với những hoạt động này người lao động tự đầu tư chi phí và hưởng toàn bộ lợi nhuận thu được ứng với chi phí họ đầu tư” [18, tr. Mặc dù các thuật ngữ này đã được sử dụng khá phổ biến trong thực tế ở Việt Nam, nhưng trong công trình của Ngô Quỳnh An lần đầu tiên các khái niệm sâu và đầy đủ về “tự tạo việc làm” và “khả năng tự tạo việc làm” được xây dựng cùng với các tiêu chí nghiên cứu và đánh giá cụ thể. Trong luận án của mình tác giả đã khắc phục được hạn chế khi chỉ sử dụng cách tiếp cận vĩ mô hay vi mô trong nghiên cứu bằng cách kết hợp cả hai cách tiếp cận này để có thể xem xét khá đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng tự tạo việc làm của thanh niên như: đặc điểm thị trường lao động chung, đặc điểm lao động việc làm của thanh niên, cầu lao động thanh niên 7 (cách tiếp cận vĩ mô); và các yếu tố tác động tới cung và cầu lao động thanh niên như vốn con người, vốn xã hội và các đặc điểm nhân khẩu học và gia đình khác (cách tiếp cận vi mô).
Phân loại vấn đề tự tạo việc làm thành “làm công ăn lương” và “việc làm tự tạo” (wage employment và self-employment) được đề cập trong nghiên cứu của Lê Xuân Bá (2006). Cách phân loại việc làm này có ý nghĩa rất quan trọng khi chúng ta xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến việc chuyển dịch cơ cấu lao động việc làm ở nông thôn, cũng như khi đưa ra các giải pháp để khuyến khích chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao khả năng tự tạo việc làm do bản chất các hoạt động này là khác nhau. Trong báo cáo cũng làm rõ vấn đề các hoạt động được xem như là “việc làm tự tạo”, liên quan đến việc tự quản lý và sở hữu một cơ sở sản xuất các hàng hoá và dịch vụ. Người mua loại lao động này không thể đưa ra các điều khoản trực tiếp về sản phẩm.
Ví dụ, những người có các xưởng sản xuất, cửa hàng cửa hiệu…họ chỉ có trách nhiệm đối với các kết quả với chính bản thân họ [14, tr. Lý thuyết kinh tế học hiện đại của Mankiw, hành vi người sản xuất hay quyết định của các doanh nghiệp khi gia nhập hoặc rời bỏ thị trường được dựa trên cơ sở so sánh giữa tổng doanh thu và tổng chi phí dự tính, nếu tổng doanh thu lớn hơn tổng chi phí bỏ ra trong dài hạn, một người sẽ quyết định khởi sự công việc của riêng mình. Lý thuyết này mang tính chất mô tả các quyết định tĩnh, không giải thích rõ ràng về quá trình tự tạo việc làm [62]. Nghiên cứu về mô hình thặng dư lao động - David Ricardo đã đưa ra giả định “ việc lợi tức nông nghiệp giảm dần theo thời gian sẽ tạo ra “thặng dư lao động” và người ta có thể rút thặng dư lao động ra khỏi nông nghiệp, chuyển sang công nghiệp mà không làm thay đổi tổng sản lượng nông nghiệp cũng như tăng tiền lương ở hai khu vực”.
Với kết luận này cho thấy thặng dư lao động là yếu tố thúc đẩy sự chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp [3,tr. Tự tạo việc làm tác động cho sự phát triển là vấn đề được xem xét ở nông thôn Trung Quốc. Công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Sandeep Mohapatra, Scott Rozelle, Rachael Goodhue (2009) đã đánh giá vai trò của các quá trình tự tạo 8 việc làm ở nông thôn của Trung Quốc. Sự gia tăng của công việc tự thúc đẩy kinh doanh và là một dấu hiệu của sự phát triển.
Sử dụng dữ liệu về lịch sử thị trường lao động trong 20 năm của một mẫu đại diện quốc gia của các cá nhân, cung cấp bằng chứng mô tả rằng tự tạo việc làm ở nông thôn Trung Quốc, không giống như ở một số nơi khác, là một dấu hiệu của sự phát triển. Sử dụng mô hình Markov trong phân tích tự tạo việc làm ở nông thôn Trung Quốc [72]. Vấn đề tự tạo việc làm của người lao động tác động đến ổn định quốc gia, được khẳng định trong công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Sana El Harbia, Gilles Grolleaub. Công trình nghiên cứu này nhận thấy tự tạo việc làm ảnh hưởng sự phát triển của cá nhân ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực.
Thay vì xem xét những ảnh hưởng hạnh phúc ở mức độ cá nhân, công trình nghiên cứu đánh giá tự tạo việc làm hiệu ứng lây lan và ảnh hưởng hạnh phúc trong nước của cá nhân. Sử dụng bảng điều khiển phân tích dữ liệu cho 15 nước OECD trong khoảng thời gian 18 năm, nghiên cứu điều tra thực nghiệm các quốc gia với mức độ cao hơn của công việc tự làm hạnh phúc hơn [71]. Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khung sinh kế bền vững (Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework) (2001), để xác định và thiết kế các hoạt động hỗ trợ của mình. Theo khung này, các hộ gia đình, cá nhân đều có phương thức kiếm sống (chiến lược sinh kế) dựa vào những nguồn lực sinh kế sẵn có (5 loại nguồn lực) trong một bối cảnh chính sách và thể chế nhất định ở địa phương.
Những nhân tố này cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài và các tác động mang tính thời vụ. Sự lựa chọn về chiến lược sinh kế của các hộ gia đình dựa trên những nguồn lực sinh kế hiện tại là kết quả của sự tương tác giữa các nhóm yếu tố này [37, tr. Mô hình tạo việc làm của Hàn Quốc, khi cư dân nông thôn giảm đi, lao động nông thôn già đi cộng với chi phí SXNN ngày càng tăng và khoảng cách thu nhập nông thôn - thành thị ngày càng nới rộng, nhu cầu phát triển nông thôn đứng trước thách thức vô cùng lớn. Hàn Quốc giải bài toán này bằng giải pháp phát triển du lịch làng - du lịch nông thôn, kéo gần thành thị với cuộc sống nông thôn.
Đây là 9 một trong những kinh nghiệm đối với sự phát triển nông thôn Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện bởi Lee Sang Mu, Cố vấn đặc biệt của Chính phủ về Nông- lâm- ngư nghiệp, “Phát triển nông thôn - Từ điểm nhìn Hàn Quốc: Phong trào Saemaul Undon” [11]. Vấn đề nghiên cứu về tạo việc làm được nhiều nghiên cứu nước ngoài quan tâm trong đó có một số nghiên cứu có điều kiện tương tự phù hợp với Việt Nam như công trình “Tourism and agricultural development in thailand”, của nhóm tác giả Timothy J. Forsyth, University of London, UK Cho thấy việc thông qua du lịch cộng đồng nông nghiệp là một trong các biện pháp tạo việc làm phù hợp.
Nghiên cứu thực hiện trong một nổi bật "đồi bộ lạc" ngôi làng ở miền bắc Thái Lan chỉ ra rằng du lịch cộng đồng nông nghiệp là mô hình cần thiết giải quyết việc làm hộ gia đình. Tuy nhiên, hộ gia đình đã thông qua du lịch tăng tần số canh tác bằng cách thuê lao động nông nghiệp và phân chia đất trong phạm vi gia đình để tối đa hóa việc sử dụng đất [70]. Lý thuyết “Lực đẩy” đưa ra giả thuyết rằng, những người tự tạo việc làm không phải có phẩm chất gì khác với những người làm công mà chỉ là phản ứng tạm thời của họ với hoàn cảnh khó tìm kiếm việc làm trong thời kỳ suy giảm kinh tế. Đối lập với lý thuyết “lực đẩy” là lý thuyết “lực hút”, với giả thuyết cho rằng những người khởi sự doanh nghiệp là những người có phẩm chất và kiến thức kỹ năng đặc biệt nào đó thúc đẩy họ lựa chọn và theo đuổi tự tạo việc làm [18, tr.
Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu chú ý tới một mô hình khác về các yếu tố tác động tới quyết định sự chuyển dịch cơ cấu lao động. Mô hình này cho rằng hộ gia đình quyết định tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp là do hai nhóm yếu tố khác nhau “kéo” và “đẩy” lao động vào hoạt động phi nông nghiệp. Reardon (1997) đưa ra các nhân tố “đẩy” sau đây: (1) tăng trưởng dân số, (2) tăng sự khan hiếm của đất có thể sản xuất, (3) giảm khả năng tiếp cận với đất phì nhiêu, (4) giảm độ màu mỡ và năng suất của đất, (5) giảm các nguồn lực tự nhiên cơ bản, (6) giảm doanh thu đối với nông nghiệp, (7) tăng nhu cầu tiền trong cuộc sống, (8) các sự kiện và các cú sốc xảy ra, (9) thiếu khả năng tiếp cận đối với các thị trường 10 đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, (10) thiếu vắng các thị trường tài chính nông thôn. Hơn nữa, ông cũng gợi ý các nhân tố “kéo” sau đây: (1) doanh thu cao hơn của lao động phi nông nghiệp, (2) doanh thu cao hơn khi đầu tư vào lĩnh vực phi nông nghiệp, (3) rủi ro thấp hơn của khu vực phi nông nghiệp so với khu vực nông nghiệp, (4) tạo ra tiền mặt để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của gia đình và (5) nhiều cơ hội đầu tư.
Tóm lại, nhân tố “kéo” đưa ra những sự hấp dẫn của khu vực phi nông nghiệp đối với người nông dân. Nhân tố đẩy liên quan đến áp lực hoặc các hạn chế của khu vực nông nghiệp buộc nông dân tìm kiếm thu nhập khác nếu họ muốn cải thiện các điều kiện sống của mình [14].