Phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỰ DO Ý CHÍ TRONG GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 1. Khái luận về hợp đồng và giao kết hợp đồng 1. Khái niệm về hợp đồng và bản chất của hợp đồng 1.
Khái niệm hợp đồng trong pháp luật một số quốc gia trên thế giới Trong lĩnh vực luật tƣ, Luật Hợp đồng là một trong những luật lâu đời nhất điều chỉnh các quan hệ giao lƣu dân sự, kinh doanh, thƣơng mại. Nếu nhƣ sự an toàn của con ngƣời đƣợc bảo vệ trên cở sở những quy định của Luật Hình sự, thì sự an toàn về tài sản trong giới kinh doanh, giao lƣu buôn bán đƣợc bảo đảm trên cơ sở các quy định của Luật Hợp đồng [37, tr. Khi nghiên cứu về hợp đồng, có tác giả đã nhận xét: khó có thể nói chính xác hợp đồng có từ khi nào. Chỉ biết rằng thuật ngữ “hợp đồng” (contractus) vốn phát sinh từ động từ “contrahere” trong tiếng Latinh có nghĩa là “ràng buộc” và xuất hiện đầu tiên ở La Mã khoảng thế kỷ V - IV trƣớc Công nguyên.
Sau khi đế quốc La Mã tan rã (khoảng thế kỷ V - VI sau Công nguyên), các nƣớc Châu Âu chấp nhận dùng thuật ngữ “hợp đồng” khởi nguồn từ luật La Mã [2, tr. Ngay từ thời La Mã cổ đại, Nhà nƣớc La mã đã có những quy định về các loại hợp đồng cụ thể trong pháp luật của mình: Hợp đồng mua bán, hợp đồng trao đổi, hợp đồng cho vay, hợp đồng gởi giữ, hợp đồng cầm cố, hợp đồng ủy thác,. Trên cơ sở hệ thống hóa các dạng khế ƣớc phổ biến, các luật gia La Mã định nghĩa hợp đồng (contractus) là căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật với hai dấu hiệu đặc trƣng: Thứ nhất, phải có sự thỏa thuận (conventio, consensus) - sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể bình đẳng về địa vị pháp lý; Thứ hai, phải có mục đích (căn cứ pháp lý) nhất định (causa) mà các bên hƣớng tới. Pháp luật La Mã cũng quy định cụ thể các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng: ý chí các bên tham gia giao dịch; nội dung hợp đồng hợp pháp và đƣợc xác định; đối tƣợng hợp đồng phải thực hiện đƣợc; thỏa mãn điều kiện hình thức hợp đồng;.
Tính chặt chẽ và khái quát của khái niệm hợp đồng trong Luật La Mã đã đƣa chế định hợp đồng La Mã vƣợt ra ngoài lãnh thổ rộng lớn của nó, quan niệm về hợp đồng của ngƣời La Mã đƣợc áp dụng rộng rãi trong luật pháp các nƣớc Tây Âu. Ảnh hƣởng 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của khái niệm hợp đồng La Mã ngày càng đƣợc khẳng định cùng với sự ra đời của các bộ dân luật ở các nƣớc khác nhau, nhất là ở Châu Âu, bắt đầu từ Bộ luật Dân sự Pháp (1804) - bộ luật dân sự đầu tiên trên thế giới cho đến các bộ luật dân sự hiện hành của các quốc gia khác nhƣ: Bộ luật Dân sự Tây ban Nha (1889), Bộ luật Dân sự Nhật Bản (1895), Bộ luật Dân sự Đức (1896), Bộ luật Dân sự Ý (1942), Bộ luật Dân sự Liên Bang Nga (1994),. Đƣợc xem là một trong những bộ luật có ảnh hƣởng lớn đến nền pháp luật dân sự Châu Âu lục địa, Bộ Luật Dân sự Pháp (Code civil) (1804) định nghĩa hợp đồng nhƣ sau: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều ngƣời cam kết với một hoặc nhiều ngƣời khác về việc chuyển giao một vật, làm hay không làm một công việc nào đó” (Điều 1101). Theo quan niệm của ngƣời Pháp, hợp đồng trƣớc hết là một hành vi pháp lý thể hiện ý chí làm phát sinh các hệ quả pháp lý của các bên.
Sự thống nhất ý chí giữa các bên làm phát sinh một hệ quả pháp lý đặc biệt là nghĩa vụ hợp đồng [11, tr. Quan điểm này có ý nghĩa phân biệt hợp đồng với các thoả thuận khác không đƣợc coi là hợp đồng nhƣ: các thoả thuận đạt đƣợc không thể hiện ý chí đích thực của các bên (bị nhầm lẫn, bị lừa dối hoặc bị đe doạ) hay các thoả thuận không nhằm mục đích làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý… Bộ luật Dân sự Liên Bang Nga (1994) định nghĩa hợp đồng tại Điều 420 “là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Bộ luật Dân sự của Đức (1896) (sửa đổi năm 2003) không đƣa ra định nghĩa hợp đồng nhƣ Bộ luật Dân sự của Pháp, mà đề cập đến khái niệm hợp đồng thông qua quy định về việc xác lập hợp đồng. Việc tuyên bố ý chí của một bên có hiệu lực ràng buộc đối với bên đó kể từ thời điểm bên kia nhận đƣợc tuyên bố này (thuyết tiếp nhận).
Do đó, đề nghị giao kết hợp đồng đƣợc đƣa ra cho một ngƣời cụ thể sẽ có hiệu lực ràng buộc bên đề nghị giao kết hợp đồng và hợp đồng coi nhƣ đã đƣợc hình thành kể từ thời điểm bên đề nghị giao kết nhận đƣợc chấp thuận giao kết của ngƣời đó [19]; [29, tr. Điều 145 Bộ luật Dân sự của Đức quy định “ngƣời đƣa ra đề nghị giao kết hợp đồng với ngƣời khác phải chịu ràng buộc với đề nghị của mình, trừ trƣờng hợp ngƣời đƣa ra đề nghị thể hiện rõ rằng, anh ta không bị ràng buộc bởi đề nghị đó”. Đối với các nƣớc theo truyền thống luật án lệ (Common Law) nhƣ: Anh, Mỹ,… hợp đồng đƣợc hiểu “thỏa thuận ràng buộc về mặt pháp lý giữa hai bên hoặc nhiều bên 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoặc (nhƣ một số định nghĩa đã đặt ra) một tập hợp các lời hứa ràng buộc về mặt pháp lý đƣợc thực hiện bởi một bên hoặc nhiều bên” [58], chẳng hạn tại Điều 1-201 Bộ luật Thƣơng mại thống nhất (UCC) định nghĩa hợp đồng là “ khối nghĩa vụ pháp lý, phát sinh từ thỏa thuận giữa các bên theo quy định của Luật này và những quy định khác có liên quan”. Theo đó, để hình thành nên một hợp đồng cần có bốn yếu tố cơ bản sau: Đề nghị giao kết (offer), sự chấp thuận đề nghị (acceptance), nghĩa vụ đối ứng (consideration) và ý định thiết lập nghĩa vụ pháp lý (intention to effect legal obligations) [11].
Sự khác biệt cơ bản trong pháp luật hợp đồng của Common Law so với Civil Law chính là điều kiện về nghĩa vụ đối ứng (consideration). TS Phạm Duy Nghĩa “ để hợp đồng đƣợc xác lập một cách có hiệu lực, ngoài cam kết các bên phải tồn tại consideration nhƣ là lời hứa của ngƣời đƣợc đề nghị giao kết hợp đồng sẽ thực hiện một nghĩa vụ đối ứng” và “theo thông luật, consideration phải đƣợc hiểu nhƣ là sự trả giá cho một ngƣời khi ngƣời này hứa thực hiện một hành vi nhất định” [34]. Nhƣ vậy, có thể hiểu, nghĩa vụ đối ứng (consideration) là cái giá (vật, tiền, việc,.) mà mỗi bên phải trả hoặc nhận đƣợc hoặc từ bỏ theo thoả thuận. Về nguyên tắc, nếu không có nghĩa vụ đối ứng thì hợp đồng không có giá trị ràng buộc các bên trong hợp đồng, tuy nhiên không phải hợp đồng nào cũng bắt buộc có nghĩa vụ đối ứng.
Đối với các quốc gia trong khu vực châu Á, tƣ duy pháp lý về hợp đồng cũng tồn tại nhiều quan điểm, tùy thuộc vào dòng họ pháp luật mà quốc gia đó chịu ảnh hƣởng. Tại Điều 2 của Luật Hợp đồng Trung Quốc 1999 quy định: “Hợp đồng theo quy định của luật này là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng tự nhiên, các tổ chức khác…”, rõ ràng, khái niệm này có nhiều điểm tƣơng đồng với khái niệm hợp đồng trong pháp luật La Mã khi xem hợp đồng là một căn cứ xác lập nghĩa vụ và cũng chỉ ra sự tự do ý chí khi nhấn mạnh yếu tố “bình đẳng” giữa các chủ thể trong hợp đồng. Bộ luật dân sự và Thƣơng mại của Thái Lan lại không đƣa ra một khái niệm cụ thể cho hợp đồng dù quy định riêng một tiêu đề thứ 2: “hợp đồng” trong Bộ luật của mình. Tuy nhiên, nghiên cứu các quy định trong chƣơng I “Sự hình thành hợp đồng”, có thể thấy rằng quan điểm của những nhà làm luật Thái Lan khá tƣơng đồng với những nhà lập pháp theo hệ thống Common Law khi cho rằng hợp đồng trƣớc tiên 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đƣợc hình thành do lời đề nghị giao kết, sau đó nó sẽ đƣợc chính thức trở thành hợp đồng khi lời đề nghị đó đƣợc chấp nhận (phải thỏa mãn một số điều kiện nhƣ: thời hạn trả lời, điều kiện về sự thiện chí, không dối trá,…).
Khái niệm Hợp đồng trong pháp luật Việt Nam Ở Việt Nam, việc xuất hiện các định nghĩa khái quát về khế ƣớc trong Bộ Dân luật Bắc Kỳ (1931), Bộ Dân luật Trung Kỳ (1936) đã đánh dấu sự hình thành chính thức những khái niệm đầu tiên về hợp đồng trong lịch sử lập pháp nƣớc ta. Theo quy định tại Điều 664 Dân luật Bắc kỳ và Điều 680 Bộ Dân luật Trung Kỳ thì: Khế ƣớc là hiệp ƣớc do một ngƣời hay nhiều ngƣời cam đoan với một ngƣời hay nhiều ngƣời khác để chuyển giao, để làm hay không làm cái gì. Từ khái niệm này, có thể thấy khế ƣớc thực chất là sự thỏa thuận giữa ít nhất hai ngƣời để xác lập quyền, nghĩa vụ của ngƣời này đối với ngƣời khác và ngƣợc lại. Thuật ngữ „khế ƣớc‟ cũng đƣợc sử dụng trong Sắc lệnh 97/SL của nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đƣợc Hồ Chủ tịch ký ban hành ngày 22/5/1950 (Điều 13).
Thuật ngữ “khế ƣớc” cũng đƣợc sử dụng trong Bộ Dân luật 1972 của chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam trƣớc 30/4/1975 (DLSG 1972) (Điều 653). Tiếp thu quan điểm của những bộ dân luật trƣớc đó, Điều 653 của Bộ dân luật Sài Gòn quy định: Khế ƣớc hay hiệp ƣớc là một hành vi pháp lý do sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều ngƣời để tạo lập, di chuyển, biến cải hay tiêu trừ một quyền lợi, đối nhân hoặc đối vật. Sau khi thống nhất đất nƣớc năm 1975, trong khoảng 10 năm đầu, pháp luật dân sự vẫn ở vào tình trạng kém phát triển, hầu nhƣ không có văn bản nào chứa đựng có hệ thống các quy định về dân sự đƣợc ban hành.