phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung củaluận văn gồm có 3 chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về truyền thông khoa học và công nghệ 1.Khái niệm cơ bản về truyền thông khoa học và công nghệ 1.Chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về phát triển khoa học và công nghệ và vai trò của báo chí và truyền thông hiện nay 1.Thế mạnh và hạn chế truyền hình trong việc truyền thông về khoa học và công nghệ 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 2: Thực trạng các chƣơng trình truyền hình về khoa học và công nghệ của Đài Truyền hình Việt Nam 2. Quy trình tổ chức sản xuất và phát sóng các chương trình Công nghệ - Đời sống (VTV1) và chương trình Bảy ngày Công nghệ (VTV2) 2.Nội dung các chương trình Công nghệ - Đời sống (VTV1) và chương trình Bảy ngày Công nghệ (VTV2) 2.Hình thức thể hiện của các chương trình Công nghệ - Đời sống (VTV1), và chương trình Bảy ngày Công nghệ (VTV2) 2. Ý kiến khán giả về các chương trình truyền hình khoa học và công nghệ Chƣơng 3: Đánh giá chung về hoạt động truyền thông khoa học và công nghệ trên đài truyền hình Việt Nam và giải pháp 3. Ưu nhược điểm của hoạt động truyền thông về khoa học và công nghệ trên Đài truyền hình Việt Nam 3.
Nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế của các chương trình truyền thông về khoa học và công nghệ trên đài truyền hình Việt Nam 3. Giải pháp 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN THÔNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1.1 Khái niệm cơ bản về truyền thông khoa học và công nghệ 1. Khái niệm về khoa học và công nghệ Khái niệm về khoa học Thuật ngữ “khoa học” xuất hiện từ rất sớm, nó phản ánh một hình thức sáng tạo đặc biệt, một lĩnh vực hoạt động có vị trí hết sức quan trọng trong đời sống xã hội của con người. Từ lâu người ta đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về khoa học.
Trên thế giới, có một khái niệm về khoa học như sau: Khoa học là toàn bộ hoạt động có hệ thống nhằm xây dựng và tổ chức kiến thức dưới hình thức những lời giải thích và tiên đoán có thể kiểm tra được về vũ trụ. Thông qua các phương pháp kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất và bất thường của tự nhiên nhằm thu thập thông tin, rồi sắp xếp các thông tin đó thành dữ liệu để phân tích nhằm giải thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật hiện tượng. Một trong những cách thức đó là phương pháp thử nghiệm nhằm mô phỏng hiện tượng tự nhiên dưới điều kiện kiểm soát được và các ý tưởng thử nghiệm. Tri thức trong khoa học là toàn bộ lượng thông tin mà các nghiên cứu đã tích lũy được.
Định nghĩa về khoa học được chấp nhận phổ biến rằng khoa học là tri thức tích cực đã được hệ thống hóa.1 Ở Việt Nam, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về khoa học. Theo giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Phó Giáo sư Tiến sĩ Vũ Cao Đàm thì: Khoa học là một hệ thống tri thức, bao gồm: Tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học. 1 Khoa học và các khoa học: La science et les sciences. Gilles-Gaston Granger; Phan Ngọc, Phan Thiều dịch.
Nhà xuất bản Thế giới, 1995, 147tr 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Luật khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 thì khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm khoa học theo cách tiếp cận có chọn lọc của văn bản Luật khoa học và công nghệ. Khái niệm về công nghệ Theo Ủy ban kinh tế và xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương ( ESCAP) đưa ra: công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Công nghệ bao gồm kiến thức, kỹ năng.
Thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ. Định nghĩa về công nghệ của ESCAP được coi là bước ngoặt trong quan niệm về công nghệ. Theo định nghĩa này, không chỉ sản xuất vật chất mới dùng công nghệ mà khái niệm công nghệ được mở rộng ra tất cả lĩnh vực hoạt động xã hội. Theo các tài liệu nghiên cứu của Phó Giáo sư Tiến sĩ Vũ Cao Đàm thì có 3 khái niệm về công nghệ: Khái niệm 1: “Công nghê ̣ là một trật tự nghiêm ngặt các thao tác của quá trình chế biế n vật chấ t/thông tin Khái niệm 2: “Công nghê ̣ là một phương tiê ̣n (device) chế biế n vật chấ t/thông tin, gồ m: Phầ n cứng và Phầ n mề m”.
Khái niệm 3 (Mô hình Sharif): “Công nghê ̣ là một cơ thể (hê ̣ thố ng) tri thức về quá trình chế biế n vật chấ t hoặc thông tin về phương tiê ̣n và phương pháp chế biế n vật chấ t và/hoặc thông tin. Công nghệ gồm 4 yếu tố: Kỹ thuật (Technoware); Thông tin (Inforware); Con người (Humanware); Tổ chức (Orgaware) Theo Luật khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 thì Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cũng như ở khái niệm khoa học, trong phần này tác giả cũng sử dụng khái niệm công nghệ theo cách tiếp cận có chọn lọc của văn bản Luật khoa học và công nghệ. Tức là: Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm có độ tin cậy.
Sản phẩm ở đây bao gồm các dạng: dây chuyền công nghệ (dây chuyền công nghệ là mục tiêu) và sản phẩm cụ thể được sản xuất từ dây chuyền công nghệ (dây chuyền công nghệ đóng vai trò là phương tiện sản xuất). Đặc điểm công nghệ: Qua khái niệm về công nghệ ở trên ta thấy: Trước đây cách hiểu truyền thống về công nghệ đồng nhất kỹ thuật với thiết bị không lưu ý với thực tế vận hành, tay nghề của công nhân, năng lực tổ chức quản lý hoạt động sản xuất, do vậy hiện nay thuật ngữ công nghệ thường được dùng thay cho thuật ngữ kỹ thuật. Với nội dung như vậy, công nghệ đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay, khi nó đang thực sự trở thành nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước cũng như quốc tế. Khác với khoa học, các giải pháp kĩ thuật của công nghệ đóng góp trực tiếp vào sản xuất và đời sống nên nó được sự bảo hộ của nhà nước dưới hình thức sở hữu công nghiệp’ và do đó nó là thứ hàng để mua bán.
Nghị định số 63/CP của Thủ tướng Chính phủ quy định 5 đối tượng được bảo hộ ở Việt nam đó là: Sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghệ, nhãn hiệu hàng hoá và tên gọi, xuất xứ hàng hoá. Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ: Khoa học và công nghệ có nội dung khác nhau nhưng chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mối liên hệ chặt chẽ này thể hiện ở chỗ khi còn ở trình độ thấp, khoa học tác động tới kĩ thuật và sản xuất còn rất yếu, nhưng đã phát triển đến trình độ cao như ngày nay thì nó tác động mạnh mẽ và trực tiếp tới sản xuất. Khoa học và công nghệ, là kết quả sự vận dụng những hiểu biết, tri thức khoa học của con người để sáng tạo cải tiến các công cụ, phương tiệ phục vụ cho sản xuất và các hoạt động khác.
17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngày nay, không thể tách rời công nghệ khỏi khoa học cũng như không thể nói đến khái niệm khoa học mà lại không bao hàm trong nó khái niệm công nghệ. Song điều đó hoàn toàn không có nghĩa là bất cứ nền khoa học tiên tiến sẽ có một trình độ công nghệ tiên tiến xét trong phạm vi từng khu vực, từng quốc gia, từng ngành cụ thể. Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ được phát triển qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử. Vào thế kỉ XVII - XVIII khoa học công nghệ tiến hoá theo những con đường riêng có những mặt công nghệ đi trước khoa học.
Vào thế kỉ XIX khoa học công nghệ bắt đàu có sự tiếp cận, mỗi khó khăn của công nghệ gợi ý cho sự nghiên cứu của khoa học và ngược lại những phát minh khoa học tạo điều kiện cho các nghiên cứu, ứng dụng. Sang thế kỉ 20 khoa học chuyển sang vị trí chủ đạo dẫn dắt sự nhảy vọt về công nghệ. Ngược lại sự đổi mới công nghệ tạo điều kiện cho nghiên cứu khoa học tiếp tục phát triển. Khái niệm truyền thông và truyền thông về khoa học và công nghệ Khái niệm truyền thông: Truyền thông bao hàm ý nghĩa hết sức rộng lớn.
Hiện nay trên thế giới, tùy theo góc độ tìm hiểu và nghiên cứu, đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về truyền thông. Song khái niệm chung nhất, phổ biến nhất về truyền thông là: “Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kĩ năng, nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức”2 Ở định nghĩa này cần lưu ý: + Truyền thông là một quá trình tức là không phải việc làm tức thời hay xảy ra trong một khuôn khổ thời gian hẹp, mà là một việc diễn ra trong thời gian lớn. Quá trình này mang tính liên tục, vì nó không thể kết thúc ngay sau 2 Dương Xuân Sơn (chủ biên): Cơ sở lý luận báo chí và truyền thông, Nxb Đại học Quốc gia HN, 2011 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khi ta chuyển tải nội dung cần thiết mà còn tiếp diên sau đấy. Đấy là quá trình trao đổi, chia sẻ, nghĩa là ít nhất fai có hai thực thể và không phải là một bên cho một bên nhận mà cả hai bên đều cho và nhận + Truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này cực kỳquan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông.
Và cuối cùng, truyền thông phải đem lại sự thay đổi trong nhận thức và hành vi, nếu không mỗi việc làm sẽ trở nên vô nghĩa.