Chương 1: Giới thiệu. Trong chương này tác giả trình bày lý do chọn đề tài, xác định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết cấu của đề tài và ý nghĩa khoa học của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về sự truyền dẫn lãi suất chính sách đến lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tại các NHTM. Trong chương này tác giả trình bày cơ sở lý thuyết chính của cơ chế truyền dẫn lãi suất, tổng quan các nghiên cứu trước đây.
Chương 3: Thực trạng lãi suất chính sách của NHNN, lãi suất tiền gửi và cho vay tại các NHTM Việt Nam.Trong chương này tác giả trình bày diễn biến lãi suất chính sách và lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay tại các NHTM Việt Nam giai đoạn từ quý 1/2000 – quý 3/2016. Chương 4: Đo lường mức độ truyền dẫn lãi suất chính sách đến lãi suất tiền gửi và cho vay tại các NHTM Việt Nam. Trong chương này tác giả sẽ làm rõ phương pháp nghiên cứu như cách thu thập số liệu, mô hình nghiên cứu, phương pháp ước lượng và trình bày kết quả nghiên cứu từ mô hình thực nghiệm nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị: Trong chương này tác giả sẽ tổng kết các kết quả mà đề tài đạt được và đề xuất một số khuyến nghị.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài: Với phương pháp tiếp cận dựa trên nghiên cứu của Nikolay Hristov & cộng sự (2014) đã kiểm định độ ổn định phù hợp với dữ liệu Việt Nam, đề tài đóng góp bằng chứng thực nghiệm về mức độ truyền dẫn lãi suất chính sách của NHNN Việt Nam đến lãi suất tiền gửi và cho vay tại các NHTM Việt Nam, cụ thể là khi có sự TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 thay đổi lãi suất chính sách thì sẽ làm cho lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tại các NHTM Việt Nam sẽ có biến động ra sao trong giai đoạn quý 1/2000 – quý 3/2016, khi cập nhật thời gian nghiên cứu so với các đề tài trước.
Từ bằng chứng thực nghiệm, đề tài thực hiện nhằm củng cố kết quả một số nghiên cứu trước đây tại Việt Nam, từ đó đưa ra các khuyến nghị trong phạm vi kết quả nghiên cứu đến điều hành chính sách lãi suất. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CHÍNH SÁCH ĐẾN LÃI SUẤT TIỀN GỬI VÀ CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Tổng quan về lãi suất 2.1 Cơ sở lý thuyết về lãi suất Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, một trong những biến số được xem là quan trọng, có ảnh hưởng và quan hệ mật thiết đến từng cá nhân, tổ chức trong xã hội đó là lãi suất. Có nhiều quan điểm khác nhau về lãi suất, chẳng hạn như: Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại: “Lãi suất là giá cả cho vay, là chi phí của việc sử dụng vốn và các dịch vụ tài chính khác”. Theo quan điểm của K.Mark: “Lãi suất là một phần của giá trị thặng dư mà nhà tư bản sản xuất phải trả cho nhà tư bản tiền tệ vì việc đã sử dụng vốn trong một khoản thời gian nhất định”.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học về lượng cầu tài sản: “Lãi suất là cơ sở để xác định chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền”. Theo quan điểm của Ngân hàng Thế giới: “Lãi suất là tỷ lệ phần trăm của tiền lãi so với tiền vốn”. Tóm lại, lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định mà người sử dụng trả cho người sở hữu nó. Hay nói cách khác, lãi suất là tỷ lệ phần trăm giữa tiền lãi (hay chi phí phải trả) trên một số lượng tiền nhất định để được sở hữu và sử dụng số tiền đó trong một khoảng thời gian đã thỏa thuận trước.2 Các loại lãi suất Tùy theo mục đích, tiêu chí phân loại sẽ có nhiều loại lãi suất khác nhau, trong nền kinh tế thị trường tồn tại một vài lãi suất như sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất được áp dụng cho các nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán của NHTM.
Lãi suất này do NHTW ấn định căn cứ vào mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ và chiều hướng biến động lãi suất trên thị trường tiền tệ. Đối với NHTM, lãi suất tái chiết khấu là lãi suất gốc để từ đó ấn định lãi suất chiết khấu và lãi suất cho vay khác. Lãi suất tái cấp vốn là lãi suất NHTW áp dụng cho các nghiệp vụ tái cấp vốn cho các NHTM. Ở Việt Nam, NHTW tái cấp vốn cho NHTM qua các hình thức: cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
Chúng là những khoản vay ngắn hạn để giải quyết tình trạng mất thanh khoản tạm thời tại các NHTM hoặc để thực hiện những lý do điều hành đặc biệt khác trong hoạt động ngân hàng. Các khoản vay ngắn hạn này thường được đảm bảo bằng các khoản vay hiện hữu tại NHTM mà NHTM được nắm giữ hợp pháp. Như vậy, sự khác biệt giữa lãi suất tái chiết khấu và tái cấp vốn là các tài sản dùng để thế chấp cho việc vay mượn tiền khác nhau. Lãi suất tái chiết khấu áp dụng đối với các giấy tờ có độ rủi ro thấp như trái phiếu chính phủ, thương phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn.
Còn lãi suất tái cấp vốn là lãi suất áp dụng cho các loại tài sản thế chấp có độ rủi ro cao hơn, trong đó có các khoản cho vay của các NHTM. Lãi suất tiền gửi là lãi suất ngân hàng trả cho các khoản tiền gửi vào ngân hàng. Lãi suất tiền gửi ngân hàng có nhiều mức khác nhau tùy thuộc vào loại tiền gửi (không kỳ hạn, tiết kiệm.), thời hạn gửi và quy mô tiền gửi, loại tiền tệ. Lãi suất thị trường liên ngân hàng là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho vay trên thị trường liên ngân hàng.
Lãi suất liên ngân hàng thường được ấn định bởi quan hệ cung cầu vốn vay trên thị trường liên ngân hàng và chịu sự chi phối bởi lãi suất mà Ngân hàng Trung ương cho các ngân hàng trung gian vay. Mức độ chi phối phụ thuộc vào sự phát triển của hoạt động thị trường mở và tỷ trọng sử dụng vốn vay Ngân hàng trung ương của các ngân hàng trung gian. Ngân hàng Trung ương là TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 tổ chức công bố thông tin sẽ tập hợp số liệu của các ngân hàng, tính toán và đưa ra một con số bình quân (lãi suất bình quân liên ngân hàng). Lãi suất cho vay là lãi suất mà người đi vay phải trả cho ngân hàng khi đi vay từ ngân hàng để được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định.
Lãi suất cho vay có nhiều loại khác nhau tùy theo loại tiền tệ, thời hạn, phương thức thanh toán, mục đích sử dụng vốn vay,.3 Khái quát về công cụ lãi suất Ngân hàng Trung ương sử dụng lãi suất như một công cụ để tác động đến lượng tiền trong lưu thông nhằm đạt được mục tiêu của chính sách tiền tệ, không phải là lãi suất kinh doanh các ngân hàng thương mại áp dụng mà đó là lãi suất chính sách. Để điều hành chính sách tiền tệ thông qua công cụ lãi suất, Ngân hàng Trung ương sẽ ấn định và công bố một số lãi suất chính sách như sau: lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn,…Trên cơ sở đó, các ngân hàng thương mại sẽ xây dựng cho mình một hệ thống lãi suất riêng, phù hợp với điều kiện huy động tiền gửi tiết kiệm và cho vay của mỗi ngân hàng, với những mức lãi suất khác nhau tùy thuộc vào thời hạn, mức độ rủi ro cao hay thấp của các khoản huy động và cho vay, mức độ tín nhiệm của mỗi ngân hàng đối với khách hàng của mình. Ngoài ra các ngân hàng thương mại không chỉ huy động vốn trong dân mà còn có thể vay mượn lẫn nhau trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, thường là với một thời hạn ngắn có khi chỉ qua đêm theo một mức lãi suất liên ngân hàng thay đổi liên tục mỗi ngày tùy thuộc vào nguồn cung cầu vốn ngắn hạn trên thị trường. Ngân hàng trung ương thường xuyên can thiệp trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng nhằm hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng đồng thời duy trì một mức lãi suất liên ngân hàng phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ.4 Nguyên tắc Taylor về điều hành công cụ lãi suất Việc ra quyết định trong điều hành chính sách tiền tệ nói chung và lãi suất nói riêng của Ngân hàng Trung ương liên quan đến một vấn đề cố hữu là tính tự quyết hay quyết định có nguyên tắc.
Với xu thế minh bạch hóa và giải trình ngày càng cao TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 đối với các quyết định chính sách, các NHTW nói chung đều đưa ra các nguyên tắc cơ sở để điều hành lãi suất. Năm 1993, nhà nghiên cứu John B. Taylor, Giáo sư Đại học Stanford (Mỹ) đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm đối với chính sách lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Federal Reserve - FED) trong vòng một thập niên trong giai đoạn 1980- 1990 và phát hiện ra rằng biến động lãi suất điều hành của FED tuân thủ theo một nguyên tắc nhất định trong mối tương quan với lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Từ quan sát trên, Taylor đã mở rộng nghiên cứu và khái quát hóa thành một nguyên tắc điều hành lãi suất của NHTW gọi là Nguyên tắc Taylor (the Taylor Rule - TR).
Theo TR, lãi suất điều hành cần điều chỉnh phù hợp với thay đổi của chênh lệch sản lượng (chênh lệch giữa GDP tiềm năng và GDP thực tế trong một thời kỳ) và chênh lệch lạm phát (chênh lệch giữa mức lạm phát thực tế và mức lạm phát mục tiêu) trong nền kinh tế.