Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến khái niệm và cơ sở hình thành triết lý yêu nước Việt Nam Những vấn đề liên quan đến “triết lý” và “triết lý yêu nước Việt Nam” đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu từ các góc độ nghiên cứu khác nhau. Do vậy, những cách lý giải về khái niệm “triết lý” cũng có sự khác nhau nhất định. Chẳng hạn như: Trong công trình “Triết lý đã đi đến đâu”, tác giả Trần Đức Thảo đã viết: “Triết lý là ý niệm của nhân loại, tự giác đã đi ra khỏi cách sinh sống thời đại dã man, và nhờ văn minh có nâng đời sống lên phương diện phổ biến” [101, tr.
Theo tác giả, “triết lý” được hiểu là “triết học”. Triết lý được hình thành rất sớm, từ nhận thức và những hoạt động xã hội của con người. Loài người đã cố gắng vươn lên hoàn cảnh sống của mình và cố nâng cuộc sống lên trình độ văn minh. Tiểu luận “Những dị biệt giữa hai nền triết lý Đông - Tây” [28, tr.18-30] của tác giả Kim Định đã đề cập đến ba khái niệm “triết lý”, “minh triết” và “triết học”.
Tác giả cho rằng, “triết lý” và “minh triết” giống nhau ở chỗ cùng tìm hiểu suy nghĩ và thực hiện cái tính bản nhiên của con người. Nhưng hai khái niệm này cũng có điểm khác nhau: “minh triết” nhìn thẳng trực nghiệm không đưa ra lý sự biện chứng, bàn giải như “triết lý”. Ông đưa ra kết luận: “Xét về nội tại triết lý thấp hơn minh triết nhưng lại có giá trị hơn minh triết, bởi nó gần với quảng đại quần chúng nhân dân (triết lý ví như cái thang đi lên sân thượng, còn minh triết được ví như sân thượng)” [28, tr. Trong tiểu luận, tác giả cũng đưa ra sự so sánh giữa “triết lý” và “triết học”.
Ông cho rằng, “triết lý” lấy con người làm trọng tâm suy nghĩ, nhằm thực hiện vào bản thân; “triết học” lấy thiên nhiên, sự vật làm trung tâm suy tư, nhằm tìm biết sự khách quan. Theo tác giả, phương Đông thiên về minh triết và triết lý, còn phương 5 Tây thiên về triết học. Như vậy, Kim Định không xác định các khái niệm “triết học”, “triết lý”, “minh triết” mà tập trung đưa ra các đặc điểm để phân biệt các khái niệm này. Trong bài “Mấy suy nghĩ về triết học và triết lý”, tác giả Hồ Sĩ Quý thể hiện những suy ngẫm có chiều sâu về “triết lý”, về mối quan hệ giữa triết lý và triết học.
Tác giả cho rằng, “triết lý” có thể và nên được hiểu là những tư tưởng, quan điểm hay quan niệm mang tính khái quát cao, được phản ánh một cách cô đúc dưới dạng các mệnh đề hoặc các cách phán đoán thường trau chuốt về mặt ngữ pháp. Ông đưa ra sự so sánh hai khái niệm “triết lý” và “triết học” rằng, hai khái niệm này khác nhau ở tính hệ thống, đặc điểm và hình thức biểu hiện của nó. Do đó, “nếu có thể đem so sánh với triết học thì triết lý luôn luôn ở trình độ thấp hơn về tính hệ thống, độ toàn vẹn và khả năng nhất quán trong việc giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy” [96, tr. Cũng bàn về “triết lý”, trong tác phẩm “Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa trong văn hóa”, tác giả Hoàng Trinh làm rõ nguồn gốc, vai trò của triết lý đối với đời sống con người.
Tác giả khẳng định: “Triết lý là những nguyên lý đầu tiên, những ý tưởng cơ bản được dùng làm nền tảng cho sự tìm tòi và suy lý của con người về cội nguồn, sự xử thế và xử sự trong các hành động sống hàng ngày” [117, tr. Cuốn sách “Triết lý phát triển ở Việt Nam: Mấy vấn đề cốt yếu” là một công trình nghiên cứu của nhiều học giả về phát triển xã hội. Trong đó, các tác giả trình bày khái niệm “triết học”, “triết lý” và phân tích mối quan hệ biện chứng giữa hai khái niệm này. Các tác giả đồng ý với quan điểm của một số nhà khoa học như quan điểm của Trần Văn Giàu rằng: “triết học chủ yếu là lý luận về nhận thức… Còn triết lý chủ yếu hướng về đạo lý” [81, tr.21]; trích dẫn quan điểm của Vũ Khiêu khi ông cho rằng, triết lý chủ yếu nói về bản thân mình, thể hiện ý nghĩ và hành vi có ý nghĩa chỉ đạo cuộc sống con người; triết lý không thể hiện tầm khái quát vũ trụ quan và nhân sinh quan như triết học 6 [xem: 81, tr.
Từ đó, các tác giả thống nhất nhận định: “triết học” và “triết lý” có mối quan hệ với nhau nhưng không giống nhau. Hai khái niệm này đều đề cập những vấn đề thuộc phạm trù tư tưởng; triết lý là những ý tưởng cơ bản, nền tảng cho sự tìm tòi và suy lý; triết lý ở mức độ “khiêm tốn” hơn triết học về tầm khái quát. Cũng trong công trình “Triết lý phát triển ở Việt Nam: Mấy vấn đề cốt yếu”, tác giả Phạm Xuân Nam có nhận định về “triết lý” và vai trò quan trọng của nó đối với sự phát triển xã hội. Tác giả cho rằng, “triết lý có vai trò định hướng trực tiếp ngược trở lại đối với cuộc sống và những hoạt động thực tiễn của con người” [81, tr.
Cuốn sách đã đề cập đến nhiều vấn đề, trong đó có triết lý về mối quan hệ giữa các lĩnh vực trong đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, đạo đức, pháp luật; về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với xã hội. Các tác giả không hướng tới việc đánh giá “triết học” và “triết lý” cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào cao hơn cái nào mà chỉ đánh giá về tính hệ thống, mức độ khái quát của các khái niệm. Theo đó, mỗi nội dung của triết lý được cô đọng theo một cách và ở mức sâu sắc nhất có thể. Cùng với sự phát triển của các trường phái triết học, các triết lý vẫn tiếp tục được đúc kết, ra đời và phát huy những giá trị của nó trong đời sống xã hội.
Trong cuốn sách “Triết lý phát triển Hồ Chí Minh: giá trị lý luận và thực tiễn” [3], các nhà nghiên cứu phân tích, lý giải rõ về giá trị định hướng của triết lý, về mối quan hệ giữa “triết học” và “triết lý”; “triết lý” là lý lẽ mang tính khái quát, nó là kết quả của sự suy nghĩ, chiêm nghiệm, đúc kết thành những quan điểm, luận điểm, phương châm cơ bản mang tính cốt lõi nhất về cuộc sống và hoạt động thực tiễn của con người; chúng có vai trò định hướng cho con người trong cuộc sống cũng như hoạt động thực tiễn; về mặt hình thức, nó thường được thể hiện dưới dạng những mệnh đề, những câu châm ngôn ngắn gọn, súc tích bao chứa ý nghĩa sâu xa về nhân tình thế thái, về tự nhiên, xã hội và con người [xem: 3, tr. 7 Trong cuốn sách “Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam” [40], tác giả Phạm Minh Hạc đã trích dẫn theo các cuốn từ điển ba khái niệm: “triết học”, “triết lý” và “minh triết”. Tác giả dẫn người đọc hiểu đại thể “triết lý” là triết học đã được vận dụng vào một trường hợp cụ thể, gắn với cuộc sống thực ở một cấp độ nào đó, trong một phạm vi nhất định. Những công trình có nội dung cụ thể về “triết lý yêu nước Việt Nam” cho đến nay hầu như là rất ít.
Tuy nhiên, những vấn đề liên quan, có quan hệ ít nhiều đến triết lý yêu nước Việt Nam như: tinh thần yêu nước, tư tưởng yêu nước và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam,. cũng đã được đề cập. Từ góc độ sử học và đạo đức học, các tác phẩm của tác giả Trần Văn Giàu được đánh giá là những công trình tiêu biểu. Trong công trình “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam”, tác giả đã phân tích sự vận động của giá trị tinh thần truyền thống qua những sự kiện lịch sử Việt Nam.
Trong chương IV: Luận bàn về yêu nước, tác giả đã nêu bật giá trị của lòng yêu nước Việt Nam; đồng thời, khẳng định yêu nước là tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các giá trị và là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại, đứng đầu bảng giá trị truyền thống của dân tộc. Tác giả luận giải rằng, yêu nước trở thành tư tưởng chủ đạo, thành triết lý xã hội và nhân sinh của một dân tộc thì phải tùy từng hoàn cảnh, quá trình phát triển của đất nước đó; là kết quả quá trình vận động của một nền văn hóa lâu đời; chỉ có chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước chân chính. Và, “nếu dùng từ “đạo” với nguyên nghĩa của nó là “đường”, là hướng đi, thì chủ nghĩa yêu nước đích thật là đạo Việt Nam” [33, tr. Cũng trong công trình đó, tác giả chỉ ra nguồn gốc hình thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là từ hai đặc điểm nổi bật: thứ nhất, nước ta xuất hiện rất sớm, từ thời thượng cổ, tên gọi nước Văn Lang; thứ hai, nhìn đại thể lịch sử nước ta là một chuỗi dài những cuộc khởi nghĩa và những cuộc chiến tranh chống đô hộ, chống xâm lược của những nước lớn mạnh hơn ta gấp mấy chục 8 lần.
Tác giả khẳng định: “Hai đặc điểm ấy quyết định sự sinh nở, sự phát triển chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, một chủ nghĩa yêu nước xuất hiện rất sớm và luôn được củng cố, dồi mài bởi vô số những cuộc khởi nghĩa chống đô hộ và nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, thành một thứ vũ khí tinh thần cực kỳ sắc bén” [33, tr. Do đó, tư tưởng yêu nước Việt Nam không phải nhất thành bất biến mà hình thành và phát triển theo quá trình lịch sử của dân tộc. Cơ sở hình thành là từ tình cảm tự nhiên của con người Việt Nam, thể hiện qua các thần thoại; đến giai đoạn Bắc thuộc, để bảo vệ giống nòi, bảo vệ quốc gia dân tộc, tinh thần yêu nước của nhân dân ta đã được nâng lên; sự phát triển của chủ nghĩa yêu nước trong điều kiện nhà nước phong kiến độc lập được thể hiện rõ trong nhiệm vụ xây dựng đất nước và bảo vệ nền độc lập dân tộc; đến giai đoạn hiện đại, chủ nghĩa yêu nước truyền thống được phát huy một cách hài hòa với chủ nghĩa quốc tế vô sản, trong toàn bộ cách mạng dân tộc dân chủ tiến lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.