phần mở đầu, kết luận và đanh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của đề tài gồm 2 chơng: Chơng 1. Lý luận chung về Triết lý giáo dục và triết lý giáo dục khai phóng. Ý nghĩa của triết lý giáo dục khai phóng đối với giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay. NỘI DUNG CHGJONG 1.
LY LUAN CHUNG VE TRIET LY GIAO DUC VA TRIET LY GIAO DUC KHAI PHONG 1. Lý luận chung về Triết lý giáo dục 1. Định nghĩa triết lý giáo dục Bàn về định nghĩa của triết lý giáo dục, có rất nhiều quan điểm khác nhau, song để có thê khái quát thành một định nghĩa nhất định và toàn vẹn thì cha có công trình nghiên cứu nào có thé đạt đợc. Khái niệm triết lý trong cụm từ “triết lý giáo dục” ở đây vốn mang hàm nghĩa khá rộng.
Xuất phát từ tiếng Hy Lạp, từ “Philosophy” đợc dùng phổ biến để chỉ sự thông thái, anh minh, và khi chuyển ngữ sang tiếng việt thành từ “Triết học”. Tuy nhiên trong ngôn ngữ Trung Quốc và ngôn ngữ Việt Nam ngoài từ “Triết học” còn có từ “Triết lý”. Trong tiếng Việt, “Triết lý” mang nghĩa gộp của hai từ “triết” và “lý”. Triết là sáng suốt, thông tuệ, lý là lý lẽ.
Triết lý là cái sâu xa mà phải vậy của mọi sự vật, mọi lý do, mọi nguyên tắc trên đời. Nh vậy, “Triết học” và “Triết lý” đều bắt đầu bằng chữ “triết” để chỉ sự am hiểu, tri thức phổ quát, bản chất, thông thái. Chữ “học” đi theo chữ “triết” mang hàm ý về học thuyết, khoa học, môn học.trong khi chữ “lý” mang hãm nghĩa về lý lẽ, lý giải, ý tứ sâu xa, một châm ngôn khái quát. Nh vậy có thé hiểu “Triết lý” là Triết học đã đợc vận dụng vào một trong hop cu thé, gắn kết ở mức độ nào đó, ở phạm vi nào đó trong đời sống thực.
Tuy vậy cũng có ngời lại cho rằng “Triết lý là lý luận triết học”, phản ánh quan niệm của con ngời về những vấn đề nhân sinh, xã hội, đợc cụ thể hoá bằng những t tởng, đờng lối, phơng pháp và hành động thực tiễn, đôi khi nó đợc hiểu đồng nghĩa với một số từ ngữ khác nh định hớng (hoặc nguyên tắc định hớng, định hớng căn bản), tôn chỉ, chính sách, chủ trơng, phơng châm, nguyên tắc, sứ mạng. tùy theo tác giả sử dụng, hoặc tòy theo góc độ phát biểu, để mô tả lý thuyết căn bản về giáo dục của mình. [7, 61] Từ những phân tích trên có thê khái quát lại rằng, triết lý giáo dục đợc định nghĩa một cách đơn giản, đó là cơ sở triết học của một nền giáo dục của một nớc. Cụ thể, đó là quan điểm về vai trò, vị trí của giáo đục, đờng lối, phơng hớng phát triển, mục tiêu, nguyên lý giáo dục; là quan điểm, t tởng chỉ đạo phát triển giáo dục.
Theo giáo s lan PM Lambert, trờng trung học The Scots, Sydney, Australia: “Một triết lý giáo dục có thể coi là một tuyên bố (hoặc tập hợp các tuyên bố) xác định và làm rõ niềm tin, gia tri va su hiểu biết của một cá nhân hoặc nhóm đối với giáo dục”. Đợc định nghĩa theo nghĩa này, nó có thê đợc coi là một cơ quan kiến thức và quan điểm ít nhiều có tổ chức về giáo dục, ngay cả khi nó đợc khái niệm hóa và khi nó đợc áp dụng trong thực tiễn. Triết lý giáo dục có vai trò rất quan trọng trong việc xác định và chỉ đạo các mục đích, mục tiêu và trọng tâm của một trờng học. Nó cũng sẽ phục vụ để truyền cảm hứng và định hớng lập kế hoạch, chơng trình và quy trình giáo dục trong bất kỳ môi trờng nào.
Một triết lý giáo dục có thê anh hong dén những môn học hoặc chủ đề đợc dạy, cách chúng đợc dạy và quan trọng hơn là niềm tin và giá trị đợc dạy, cả nghĩa hàm ân lẫn tờng minh, bên trong lẫn xung quanh chơng trình giảng dạy chính. Có một loại triết lý giáo đục đợc mô tả khá đơn giản, không có gì đồ sộ nhng đợc cho là cái cốt tủy mà tất cả mọi hệ thống tổ chức, mọi phơng pháp giáo dục đều phải quy vào, và ngời xa cũng đã từng áp dụng, đợc gói ghém trong mấy câu “tiên học lễ, hậu học văn” (trớc học luân lý đạo đức, sau học văn chơng kỹ xảo), hay “chỉ chí thiện” (dừng lại ở chỗ thiện lành nhất) của Nho giáo, nghĩa là phải tu thân, chí thành và thêm mấy chữ khai ngộ, giải thoát của Phật giáo. [6, 161] Nh vậy triết lý giáo duc là ấn định nội dung phơng pháp mục đích đề định hớng một nễn giáo dục. Có nhiều định nghĩa khác nữa nhng tôi cho đây là định nghĩa hay nhất và dé hiểu nhất.
Nh thế triết lý giáo dục là triết học về giáo dục, nó không thể tách ra khỏi triết học nên nó phải đợc hình thành theo quy luật vận động của đời sống xã hội. Các khái niệm và bản chất của nó phải đợc đúc kết từ thực tiễn, hình thành lý luận rồi mới khái quát thành triết học. Sau đó vận dụng vào thực tiễn khách quan, mới là “kim chỉ nam” cho một nền giáo dục. Brennen “Triết lý giáo dục là triết lý đợc áp dụng cho giáo dục nh một lĩnh vực chuyên biệt trong sự nỗ lực của nhân loại.
Nó liên quan đến những tác động đặc trng của triết học nói chung ảnh hởng đến giáo dục.[14] Triết học của giáo dục không tự nhiên mà có, nó xuất hiện trong bối cảnh xã hội và lịch sử cụ thê. Với khái niệm và tính chất của triết lý giáo dục thì ở mỗi hoàn cảnh lịch sử, mỗi hình thái tổ chức xã hội thì có một triết lý giáo dục khác nhau. Điều đó chỉ xây ra với một xã hội ôn định trong bối cảnh ít có sự xáo trộn về lịch sử. Tóm lại, triết lý giáo dục là một lĩnh vực rất rộng, khó có thể bao hàm trong một vài cụm từ ngữ nào đó để thâu tóm toàn bộ nội dung, bản chất của nó.
Triết lý giáo dục, những nguyên lý cốt lõi chi phối tông thể một hệ thống hoặc chơng trình giáo dục, cần phải có những khác biệt đặc thù theo từng hệ thống, chỉ có giá trị ở hệ thống đợc thiết kế theo nó. Triết lý giáo dục cần phải nhất quán với mục tiêu và phơng pháp giáo dục, phò hợp với bối cảnh chính trị, xã hội, lịch sử và các điều kiện nguồn lực thực hiện tại một điểm không gian và thời gian cụ thể. Có thể trong trờng hợp này việc áp dụng sẽ đúng nhng ở tình huống khác lại khiên cỡng. T duy đa chiều, linh hoạt ấy là cả một kho tàng triết lý giáo dục của dân gian.
Đó là “không thầy đố mày làm nên” nhng lại “học thầy không tày học bạn.” Đó là việc đề cao sự hiểu biết kiến thức (một kho vàng không bằng một nang chữ) nhng lại chú trọng tính ứng dụng, thực tiễn (trăm hay không bằng tay quen, học đi đôi với hành. Đó chính là những triết lý giáo dục có tính truyền thống mà vô cùng hiện đại, tích cực. Triết lý giáo đục ở một số nớc trên thể giới và ở Việt Nam hiện nay Theo một số nghiên cứu, triết lý giáo duc co tir thé ky thir III trớc công nguyên, nó xuất phát từ Hy lạp với vai trò của triết lý giáo dục quốc gia là nền tảng trong việc dạy thanh niên, công nhân vận dụng trog thực tiễn đời sống. Lúc đó ở mỗi thành phố có một triết lý giáo dục khác nhau.
Athens đặc biệt quan trọng và đã tổ chức những cơ sở nỗi tiếng nh Học viện của Plato và trờng Lyceum của Aristotle. Mỗi bang thành phố có một triết lý giáo dục xác định giảng dạy có hớng dẫn và mở rộng, học tập. Ngay từ thế kỷ thứ IV trớc công nguyên, Plato là ngời đầu tiên đề xuất khái niệm giáo dục. Một xã hội tồn tại đợc là do mỗi ngời có một nghề.
Mỗi cá nhân làm công việc phù hợp với những khả năng, ớc muốn tự nhiên và có ích cho những ngời khác hay đóng góp cá nhân cho sự tồn tại của xã hội dù là nguyên thủy hay hiện đại. Hành động truyền nghề có chủ ý hay sự phát triển những công việc nghề nghiệp hay việc huấn luyện kĩ năng, kỹ thuật từ ngời này sang ngời khác phục vụ xã hội chính là giáo dục. Triết lý của Plato quan niệm rằng sứ mạng của giáo dục là chuẩn bị cho ngời học gia nhập vào một xã hội nhất định nào đó dé phục vụ cho xã hội ấy. Đến giữa thế kỷ XVIII, J.J Rouseau đã đa ra ý tởng mới mang tính cách mạng: Con ngời sinh ra là thiện, mọi xã hội đều có xu hớng làm hỏng cái thiện có sẵn ấy trong con ngời, và vì vậy sứ mạng chủ yếu của giáo dục là duy trì và phát triển bản tính tốt đẹp tự nhiên của con ngời, chứ không phải là đào tạo ra sản phâm phục vụ lợi ích của xã hội theo nghĩa đen thực dụng; và rằng con ngời chỉ có một nghề duy nhất là “Làm ngời”.
Triết lý “vị cá nhân” mang tính “phòng vệ” này, tiếc thay cũng phải gặp một trở ngại lớn: “Môi trờng tự nhiên” cần thiết cho đứa trẻ đi học có thể phát huy đợc cái “thiện” của mình chỉ sản phẩm thuần túy t duy của Rouseau. Cui thé ky XVII, E. Kant lai có một cách nhìn nhận khác. Nhân loại bắt đầu lịch sử của mình trong tình trạng bị tự nhiên khống chế chứ không phải với t cách con ngời là một sinh vật có lý trí, trong khi đó tự nhiên chỉ cung cấp bản năng và lòng ham muốn.
Vì vậy, theo Kant “Con ngời là tạo vật duy nhất cần phải đợc giáo dục” hay “Con ngời là những gì đợc giáo dục tạo nên” Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cùng với sự xuất hiện trào lu thực dụng luận, trào lu tân giáo dục đã ra đời ở Mỹ mà ngời khởi xớng là John Dewey. Theo ông, “Triết lý giáo dục là lý luận giáo dục xét nh một thực tiễn đợc thực hiện một cách có chủ tâm”. Bởi vậy, một triết lý giáo dục nào cũng phải chứa đựng những nội dung nhằm trả lời các câu hỏi sau: mục tiêu tối hậu của giáo dục là gì? Và để đạt đợc mục tiêu ấy cần phải hành động theo phơng châm nào? Và bằng phơng pháp nào? [7, 64] Các nguyên lý cơ bản về phơng châm, phơng pháp giáo dục của Deway đã thực sự làm nên một cuộc cách mạng mới trong giáo dục.