Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Trí thức Nam Kỳ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc từ năm 1884 đến năm 1930" do nghiên cứu sinh Trần Thị Ánh thực hiện tại Trường Đại học Vinh (năm 2017), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Lê Hữu Phước và TS. Trần Vũ Tài, thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số 62.13).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong tiến trình lịch sử cận đại, Nam Kỳ là vùng đất "đi trước về sau" trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trí thức Nam Kỳ là lực lượng sớm nhận thức sự bất lực của ý thức hệ phong kiến và chủ động tiếp thu các trào lưu tư tưởng mới phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc. Mặc dù có những cống hiến lớn lao, nhưng cho đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, vẫn chưa có một công trình sử học nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu và toàn diện về đội ngũ trí thức Nam Kỳ trong giai đoạn 1884 - 1930. Do hoàn cảnh lịch sử, địa lý và văn hóa đặc thù, trí thức Nam Kỳ mang những đặc điểm riêng biệt so với trí thức cùng thời ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Việc thực hiện luận án đáp ứng yêu cầu phục dựng bức tranh lịch sử hoàn chỉnh, cung cấp tài liệu tham khảo cho nghiên cứu lịch sử cận đại Việt Nam và giáo dục truyền thống.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ sự hình thành, phát triển và thái độ chính trị của các bộ phận trí thức ở Nam Kỳ trước cuộc chiến tranh xâm lược và sự cai trị của thực dân Pháp; hệ thống hóa những hoạt động yêu nước tiêu biểu theo các khuynh hướng cứu nước khác nhau từ năm 1884 đến năm 1930; từ đó làm rõ đặc điểm, vai trò và những đóng góp của trí thức Nam Kỳ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua 5 điểm:

  1. Làm rõ quá trình hình thành, phát triển của đội ngũ trí thức nho học (cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX) và đội ngũ trí thức tân học (đầu thế kỷ XIX đến năm 1930) ở Nam Kỳ;
  2. Phân tích và làm rõ thái độ chính trị của trí thức Nam Kỳ trước những biến động của thời cuộc qua các giai đoạn lịch sử từ năm 1884 đến năm 1930;
  3. Phục dựng những hoạt động của trí thức Nam Kỳ trong phong trào yêu nước và cách mạng theo các khuynh hướng cứu nước khác nhau từ năm 1884 đến năm 1930;
  4. Làm rõ những chuyển biến nổi bật về tư tưởng của trí thức Nam Kỳ từ ý thức hệ phong kiến sang lập trường dân chủ tư sản và lập trường vô sản qua các giai đoạn: từ năm 1884 đến đầu thế kỷ XX, từ đầu thế kỷ XX đến giữa thập niên 20 của thế kỷ XX và từ giữa thập niên 20 của thế kỷ XX đến năm 1930;
  5. Nhận định, đánh giá vai trò và những đóng góp nổi bật của trí thức Nam Kỳ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc từ năm 1884 đến năm 1930.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình hình thành, phát triển, thái độ chính trị, hoạt động và đóng góp của trí thức Nam Kỳ trong cuộc vận động giải phóng dân tộc từ năm 1884 đến năm 1930. Khái niệm "trí thức" được luận án định nghĩa là những người có học thức (thi đỗ từ "tú tài" trở lên) hoặc những người không đỗ đạt nhưng có hiểu biết rộng, uy tín cao và được xã hội trân trọng. Khái niệm "trí thức Nam Kỳ" bao gồm nhân sĩ, trí thức sinh ra, lớn lên ở Nam Kỳ hoặc sinh ra ở nơi khác nhưng hoạt động chủ yếu và để lại dấu ấn trên địa bàn Nam Kỳ giai đoạn 1884 - 1930, cùng một số trí thức sau thời gian học tập, hoạt động ở nước ngoài đã trở về hoạt động tại Nam Kỳ.

Phạm vi nghiên cứu được xác lập như sau:

  • Không gian: Lục tỉnh Nam Kỳ dưới triều Nguyễn trước khi Pháp xâm lược và vùng đất Nam Kỳ (Cochinchine) thuộc địa của Pháp theo Hiệp ước Patenôtre (1884).
  • Thời gian: Từ năm 1884 (thời điểm triều đình Huế ký Hiệp ước Patenôtre, xác lập ách đô hộ của thực dân Pháp trên toàn cõi Việt Nam) đến năm 1930 (thời điểm Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập vào tháng 2-1930, xác lập quyền lãnh đạo của khuynh hướng cách mạng vô sản).
  • Nội dung: Tập trung vào hoạt động và đóng góp của trí thức Nam Kỳ qua ba mảng chính: phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX; phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản 30 năm đầu thế kỷ XX; và phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng cách mạng vô sản nửa cuối những năm 20 của thế kỷ XX.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả đã tiến hành khảo cứu và hệ thống hóa khối lượng lớn tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài theo ba nhóm công trình:

Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về trí thức Việt Nam trong tiến trình lịch sử. Tác giả điểm lại các công trình tiêu biểu tiếp cận từ góc độ triết học, xã hội học, sử học như: Người trí thức Việt Nam qua các chặng đường lịch sử (1987) và Trí thức Việt Nam thời xưa (2006) của Vũ Khiêu; Trí thức Việt Nam - thực tiễn và triển vọng (1995) của Phạm Tất Dong; Một số vấn đề về trí thức Việt Nam (1998) của Nguyễn Thanh Tuấn; Một số vấn đề về trí thức Việt Nam (2001) của Nguyễn Văn Khánh và Nguyễn Quốc Bảo; Góp phần tìm hiểu một số nhân vật lịch sử Việt Nam (2003) của Chương Thâu; Trí thức với Đảng, Đảng với trí thức trong sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước (2004) của Nguyễn Văn Khánh và cộng sự; Trí thức Việt Nam xưa và nay (2006) của Nguyễn Quang Ân và Dương Trung Quốc; Thực trạng và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước (2014) của Trần Đức Vượng (chủ biên); và chuyên khảo Trí thức Việt Nam trong tiến trình lịch sử dân tộc (2016) của Nguyễn Văn Khánh. Bên cạnh đó là các bài viết nghiên cứu của Nguyễn Thanh Tuấn (1989), Đoàn Trường Thụ (1999), Trịnh Văn Thảo (2011). Các công trình này cung cấp khung lý luận về tầng lớp trí thức, nêu bật truyền thống yêu nước của trí thức Việt Nam, song hầu hết chỉ đề cập khái lược về trí thức Nam Kỳ hoặc tập trung vào một vài nhân vật cụ thể.

Nhóm thứ hai: Các công trình nghiên cứu về trí thức Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc.

  • Các công trình trong nước gồm: Sự chuyển biến của phong trào yêu nước và cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong ba mươi năm đầu thế kỉ XX (2002) của Đinh Trần Dương; Góp phần tìm hiểu Nho giáo - Nho sĩ - Trí thức Việt Nam trước năm 1945 (2007) của Chương Thâu; Phong trào yêu nước cách mạng đầu thế kỷ XX - Nhân vật và sự kiện (2012) của Đinh Xuân Lâm và Chương Thâu; Trí thức Việt Nam đối diện với văn minh phương Tây thời Pháp thuộc (2012) của Trần Viết Nghĩa; Thái độ của sĩ phu Việt Nam thời tiếp xúc Đông - Tây từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX (2014) do Trần Thuận chủ biên; Trí thức Việt Nam trong tiến trình giải phóng dân tộc nửa đầu thế kỷ XX (1900 - 1945) (2016) do Nguyễn Đình Thống chủ biên; cùng các tập hồi ký của Phan Bội Châu (1973), Trần Huy Liệu (1991), Lê Thị Kinh (2001, 2003), và các công trình về các tổ chức tiền thân của Đảng (1977, 1985, 2001, 2006).
  • Các công trình nghiên cứu nước ngoài gồm: L’Indochine française pendant la Guerre de 1914-1918 (1925) của Duong Van Giao; Vietnamese Anticolonialism 1885 - 1925 (1971) của David G. Marr; Français et Annamites - Partenaires ou ennemis? 1856 - 1902 (1998) của Philippe Devillers (Ngô Văn Quỹ dịch, 2006); Vietnam du Confucianisme au Communisme (2007) của Trịnh Văn Thảo (dịch năm 2013 với nhan đề Ba thế hệ trí thức người Việt (1862 - 1954)); Du patriotisme au marxisme: l'immigration vietnamienne en France de 1926 à 1930 (1973) của Daniel Hémery (Nguyễn Trọng Cổn lược dịch, 2001).

Nhóm thứ ba: Các công trình nghiên cứu trực tiếp về trí thức Nam Kỳ thời kỳ Pháp thuộc. Tiêu biểu có luận án tiến sĩ của Trần Thị Kim Nhung (2003) nghiên cứu về thái độ ứng phó của Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông, Trương Vĩnh Ký; các công trình nghiên cứu chuyên sâu về Nguyễn An Ninh của Hà Huy Giáp (1989), Nguyễn An Tịnh (1996), Trung tâm nghiên cứu Quốc học (2009); chuyên khảo về Cao Triều Phát và Đông Dương Lao động Đảng của Phan Văn Hoàng (2001); các tuyển tập biên khảo văn thơ yêu nước của Bảo Định Giang, Ca Văn Thỉnh (1976), Bằng Giang (1992). Ở góc độ học giả nước ngoài, tác giả điểm qua các nghiên cứu lịch sử địa phương của Taillefer, J. Baurac, P. Cultru, Fernand de Montaigut, Jean Bouchot và đặc biệt là công trình The Birth of Vietnamese Political Journalism: Saigon, 1916-1930 (2012) của Philippe M. Peycam (Trần Đức Tài dịch, 2015).

Khoảng trống học thuật được luận án xác định: Mặc dù các công trình trước đây đã làm sáng tỏ nhiều khía cạnh về nhân vật hoặc các phong trào riêng lẻ, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, xuyên suốt quá trình vận động của trí thức Nam Kỳ từ năm 1884 đến năm 1930. Khoảng trống lớn nhất là việc phục dựng sự chuyển biến tư tưởng tuần tự từ ý thức hệ phong kiến sang lập trường dân chủ tư sản và lập trường vô sản của trí thức trên địa bàn Nam Kỳ. Luận án đặt mục tiêu giải quyết trọn vẹn khoảng trống lịch sử này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án được triển khai trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của đội ngũ trí thức và công tác xây dựng đội ngũ trí thức trong cách mạng giải phóng dân tộc.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng hai phương pháp cơ bản của khoa học lịch sử:

  • Phương pháp lịch sử: Nhằm tái hiện các sự kiện, nhân vật và quá trình hoạt động của trí thức Nam Kỳ theo đúng trình tự thời gian và bối cảnh lịch sử khách quan từ năm 1884 đến năm 1930.
  • Phương pháp logic: Nhằm vạch ra bản chất, khuynh hướng vận động, quy luật phát triển nội tại và sự chuyển biến về nhận thức, tư tưởng chính trị của đội ngũ trí thức qua các giai đoạn.

Bên cạnh đó, luận án kết hợp các phương pháp bổ trợ như: thống kê, tổng hợp, phân tích tài liệu và so sánh lịch sử (so sánh giữa các khuynh hướng cứu nước, so sánh giữa trí thức Nam Kỳ với trí thức Bắc Kỳ và Trung Kỳ).

Nguồn tư liệu thực chứng được huy động gồm bốn khối chính:

  1. Tài liệu lưu trữ: Phông Thống đốc Nam Kỳ (Gouverneur de la Cochinchine) tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP. Hồ Chí Minh), bao gồm các báo cáo định kỳ và chuyên đề của Sở An ninh các tỉnh gửi Thống đốc Nam Kỳ; Phông Toàn quyền Đông Dương (Gouvernement Général de l'Indochine) tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hải ngoại Pháp (ANOM - Aix-en-Provence), gồm báo cáo mật, điện tín, công văn của Nha An ninh Đông Dương và Thống đốc Nam Kỳ gửi chính quyền thuộc địa cấp trên.
  2. Tài liệu văn kiện và lý luận: Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, các văn bản chỉ đạo của Trung ương và Xứ ủy liên quan đến trí thức và vận động cách mạng.
  3. Tài liệu báo chí: Các tờ báo chữ Pháp và chữ Quốc ngữ xuất bản tại Nam Kỳ giai đoạn 1884 - 1930 (Nông Cổ Mín Đàm, Lục Tỉnh Tân Văn, La Cloche Fêlée, L'Annam, Đông Pháp Thời Báo, La Tribune Indigène, La Tribune Indochinoise, Công Luận Báo...) cùng các tạp chí chuyên ngành như Nghiên cứu Lịch sử.
  4. Tài liệu hồi ký, khảo cứu và các bộ thông sử của các học giả trong và ngoài nước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương này dành trọn dung lượng để đánh giá tình hình nghiên cứu về trí thức Việt Nam và trí thức Nam Kỳ trong tiến trình lịch sử, phân định rõ kết quả đạt được của các học giả trong nước và quốc tế. Trên cơ sở đó, tác giả khẳng định tính cấp thiết, xác định rõ khoảng trống học thuật và cụ thể hóa các nội dung, nhiệm vụ trọng tâm mà luận án phải giải quyết.

Chương 2. Trí thức Nam Kỳ với phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX

Chương 2 phục dựng bối cảnh vùng đất và đội ngũ trí thức Nam Kỳ từ cội nguồn lịch sử đến cuối thế kỷ XIX:

  • Quá trình xác lập vùng đất: Khai hoang từ thế kỷ XVII, thành lập phủ Gia Định năm 1698, lập Gia Định thành năm 1808 và cải cách hành chính chia thành Nam Kỳ Lục tỉnh năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng. Cốt cách người Nam Bộ được tôi luyện qua quá trình mở đất: trọng nghĩa, khinh tài, khoáng đạt, nghĩa hiệp.
  • Sự hình thành đội ngũ Nho sĩ: Cuối thế kỷ XVIII, trường học tư của Võ Trường Toản (với phương châm "tri ngôn, dưỡng khí", trọng thực hành) và Đặng Đức Thuật đào tạo lớp trí thức đầu tiên như Gia Định Tam Gia (Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tịnh), Ngô Tòng Châu, Phạm Đăng Hưng. Dưới triều Nguyễn, từ khoa thi Hương đầu tiên năm 1813 đến khoa thi cuối cùng năm 1864, Nam Kỳ đào tạo được đội ngũ cử nhân, tiến sĩ phục vụ quản lý xã hội.

Bảng tổng hợp số liệu khoa cử Nho học tại Nam Kỳ (theo Quốc triều hương khoa lục và Quốc triều khoa bảng lục của Cao Xuân Dục):

Chỉ số khoa cử Nho học tại Nam Kỳ (1813 - 1864) Số lượng thực tế Ghi chú nhân vật tiêu biểu
Số khoa thi Hương tổ chức tại Nam Kỳ 20 khoa 19 khoa tại trường thi Gia Định, 1 khoa tại An Giang (1864)
Tổng số sĩ tử đỗ Cử nhân 269 người Hơn 2/3 ra làm quan cho triều đình Huế
Tổng số người đỗ Tiến sĩ 3 người Phan Thanh Giản (1826), Phan Hiển Đạo (1856), Nguyễn Chánh (1862)
Tổng số người đỗ Phó bảng 2 người Đinh Văn Minh (1835), Nguyễn Trọng Tĩnh (1916)
  • Đặc điểm của Nho sĩ Nam Kỳ: Do Nho giáo du nhập muộn và văn hóa mang cấu trúc mở, Nho sĩ Nam Kỳ hướng về triết lý "Tâm học" thực tiễn hơn là "Đạo học" câu nệ từ chương; gắn bó mật thiết với tầng lớp bình dân; không câu nệ độc đạo "tiến vi quan" mà sẵn sàng "thoái vi sư" giữ trọn khí tiết (Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị, Nguyễn Thông, Nguyễn Đình Chiểu).
  • Thái độ và hoạt động kháng chiến: Khi Pháp xâm lược, Nho sĩ Nam Kỳ có thái độ kiên quyết chống đối, dấy lên phong trào "tỵ địa" bất hợp tác, trực tiếp cầm vũ khí khởi nghĩa (cử nhân Nguyễn Hữu Huân, Trần Xuân Hòa, Phan Văn Đạt, Đỗ Trình Thoại) hoặc sử dụng văn thơ làm vũ khí chiến đấu, bút chiến chống tay sai (tiêu biểu là Nguyễn Đình Chiểu với Tôn Thọ Tường).
  • Tiếp thu và truyền bá chữ Quốc ngữ, văn hóa phương Tây: Một bộ phận trí thức như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của đóng vai trò kết nối văn hóa Đông - Tây, đặt nền móng sơ khởi cho báo chí và văn xuôi Quốc ngữ.

Chương 3. Trí thức Nam Kỳ với phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản

Chương 3 trình bày các hoạt động của trí thức Nam Kỳ trong ba thập niên đầu thế kỷ XX:

  • Sự ra đời của tầng lớp trí thức mới (tân học, Tây học) dưới tác động của chính sách thuộc địa và hệ thống giáo dục Pháp - Việt.
  • Tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản: Thông qua làn sóng Tân thư, Tân văn của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu và tư tưởng triết học ánh sáng Pháp (Montesquieu, Rousseau).
  • Hưởng ứng các xu hướng cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh: Trí thức Nam Kỳ (Nguyễn Thần Hiến, Nguyễn Quang Diêu, Nguyễn An Khương...) nhiệt thành ủng hộ phong trào Đông Du; đặc biệt, phong trào Minh Tân do Trần Chánh Chiếu khởi xướng đã kết hợp cả cải cách kinh tế, lập các cơ sở kinh tài (khách sạn Nam - Trung ở Sài Gòn, khách sạn Minh Tân ở Mỹ Tho, Minh Tân công nghệ xã ở Chợ Lớn) để tài trợ du học và truyền bá tư tưởng duy tân.
  • Thành lập các tổ chức chính trị và đảng phái: Sự xuất hiện của Đảng Lập hiến (1923, do Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long đứng đầu, mang khuynh hướng cải lương thỏa hiệp), tổ chức Thanh niên Cao vọng (do Nguyễn An Ninh sáng lập), Đảng Thanh niên (Trần Huy Liệu tham gia), và Đông Dương Lao động Đảng (1926-1929, do Cao Triều Phát sáng lập nhằm tập hợp giới cần lao).
  • Phong trào đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng: Diễn thuyết công khai thức tỉnh lòng yêu nước (Nguyễn An Ninh với các bài diễn thuyết tại Sài Gòn, các buổi nói chuyện của Phan Châu Trinh năm 1925); hoạt động báo chí sôi nổi với các tờ báo đối lập (La Cloche Fêlée, L'Annam, Đông Pháp Thời Báo); cùng các sự kiện chính trị quy mô lớn như phong trào đòi thả Phan Bội Châu (1925) và tổ chức lễ tang Phan Châu Trinh (1926).

Chương 4. Trí thức Nam Kỳ với phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng cách mạng vô sản

Chương 4 phân tích chặng đường chuyển biến quyết định của trí thức Nam Kỳ nửa cuối thập niên 1920:

  • Sự phân hóa tư tưởng sâu sắc: Giữa một bộ phận trí thức tư sản đi vào con đường thỏa hiệp, cải lương với bộ phận trí thức tiểu tư sản cấp tiến chuyển dần sang lập trường cách mạng vô sản.
  • Truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin: Những trí thức du học Pháp trở về như Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh tích cực đăng tải các tác phẩm lý luận, mở đường đưa các khái niệm mác-xít thâm nhập phong trào yêu nước; thanh niên trí thức xuất dương sang Quảng Châu dự các lớp huấn luyện của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
  • Thực hiện phong trào "Vô sản hóa" (1928): Trí thức tiểu tư sản Nam Kỳ tự nguyện đi vào các đồn điền cao su, nhà máy, bến cảng cùng lao động với công nhân để rèn luyện lập trường giai cấp và truyền bá tư tưởng cách mạng.
  • Đóng góp vào sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam: Trí thức Nam Kỳ đóng vai trò nòng cốt trong việc xây dựng Kỳ bộ Nam Kỳ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, thành lập An Nam Cộng sản Đảng (tháng 8-1929) và tiến tới hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa xuân năm 1930, tiêu biểu với sự cống hiến của Châu Văn Liêm cùng nhiều chiến sĩ cộng sản lớp đầu tiên.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án nêu rõ ba đóng góp học thuật căn bản:

  1. Phục dựng bức tranh toàn cảnh: Là công trình đầu tiên tái hiện một cách hệ thống, toàn diện và liên tục về hoạt động yêu nước và cách mạng của đội ngũ trí thức Nam Kỳ qua các giai đoạn biến động lịch sử từ năm 1884 đến năm 1930.
  2. Làm rõ quy luật chuyển biến tư tưởng và đặc điểm riêng: Luận án phân tích sâu sắc quá trình chuyển biến tư tưởng mang tính quy luật của trí thức Nam Kỳ từ hệ tư tưởng phong kiến sang lập trường dân chủ tư sản và kết tinh ở lập trường cách mạng vô sản; chỉ rõ những nét riêng biệt của trí thức Nam Kỳ (tính thực tiễn, phóng khoáng, nhạy bén với cái mới, gắn bó mật thiết với phong trào quần chúng).
  3. Đóng góp về nguồn tư liệu: Khai thác, tập hợp và đối chiếu hệ thống tư liệu lưu trữ giá trị (Phông Thống đốc Nam Kỳ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II và Phông Toàn quyền Đông Dương tại ANOM - Pháp), góp phần bổ sung tư liệu cho công tác nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy lịch sử Nam Bộ cũng như lịch sử Việt Nam cận đại.

Về mặt kiến nghị thực tiễn, luận án đề xuất việc vận dụng các bài học lịch sử về tập hợp, xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tăng cường giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án thừa nhận việc tiếp cận các nguồn tài liệu lưu trữ chuyên sâu xuất bản ở nước ngoài (hoặc bằng tiếng nước ngoài) của các học giả quốc tế còn gặp những rào cản khách quan và chủ quan nhất định. Đồng thời, phạm vi đề tài giới hạn chặt chẽ ở mốc năm 1930 (khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập), do đó phong trào đấu tranh của trí thức Nam Kỳ trong giai đoạn 1930 - 1945 đầy sôi động chưa được phân tích trong nội dung này.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở là việc mở rộng đối sánh nguồn tài liệu lưu trữ từ các trung tâm quốc tế và tiếp tục nghiên cứu vai trò của trí thức Nam Kỳ trong tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc từ sau năm 1930 đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và hai cuộc kháng chiến sau đó.

Giá trị tham khảo

Luận án mang giá trị tham khảo chuyên môn cao đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn hóa học và Nam Bộ học;
  • Giảng viên đại học sử dụng làm tài liệu phục vụ giảng dạy lịch sử cận đại Việt Nam và lịch sử vùng đất Nam Bộ;
  • Các cơ quan nghiên cứu lý luận, tuyên giáo và quản lý nhà nước tham khảo kinh nghiệm lịch sử trong việc hoạch định chính sách đối với đội ngũ trí thức trong giai đoạn phát triển hiện nay;
  • Các phần đáng tham khảo nhất: Chương tổng quan tài liệu có tính bao quát cao; các số liệu thống kê khoa cử Nho học Nam Kỳ thế kỷ XIX; tư liệu phân tích về phong trào Minh Tân và làng báo chính trị Sài Gòn thập niên 1920.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "trí thức Nam Kỳ" được luận án định nghĩa và giới hạn như thế nào?
Luận án xác định trí thức là những người có học thức (thi đỗ từ "tú tài" trở lên) hoặc những người không đỗ đạt nhưng có hiểu biết rộng, uy tín cao, được xã hội trân trọng. "Trí thức Nam Kỳ" bao gồm những người sinh ra, lớn lên tại Nam Kỳ hoặc từ nơi khác đến nhưng hoạt động chủ yếu và để lại dấu ấn sâu sắc tại Nam Kỳ trong giai đoạn 1884 - 1930, kể cả các trí thức sau khi học tập ở nước ngoài trở về hoạt động tại đây.

2. Số liệu thi cử Nho học tại Nam Kỳ dưới triều Nguyễn được luận án thống kê ra sao?
Dựa trên Quốc triều hương khoa lục và Quốc triều khoa bảng lục, luận án chỉ ra từ năm 1813 đến năm 1864, Nam Kỳ tổ chức được 20 khoa thi Hương (19 khoa tại trường thi Gia Định, 1 khoa tại An Giang), lấy đỗ 269 cử nhân. Trong số đó có 3 người đỗ tiến sĩ (Phan Thanh Giản, Phan Hiển Đạo, Nguyễn Chánh) và 2 người đỗ phó bảng (Đinh Văn Minh, Nguyễn Trọng Tĩnh). Hơn 2/3 số cử nhân đã tham gia bộ máy quan lại của triều đình.

3. Vì sao luận án chọn mốc thời gian nghiên cứu từ năm 1884 đến năm 1930?
Năm 1884 là mốc triều đình Huế ký Hiệp ước Patenôtre, chính thức thừa nhận ách thống trị của thực dân Pháp trên toàn lãnh thổ Việt Nam, mở đầu thời kỳ cả nước bước vào cuộc vận động giải phóng dân tộc. Tháng 2 năm 1930 là thời điểm Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, đánh dấu bước ngoặt xác lập quyền lãnh đạo duy nhất của giai cấp vô sản đối với cách mạng Việt Nam, kết thúc giai đoạn khủng hoảng về đường lối và tổ chức cứu nước.

4. Phong trào Minh Tân do Trần Chánh Chiếu khởi xướng có đặc trưng gì nổi bật?
Phong trào Minh Tân tại Nam Kỳ kết hợp cả hai xu hướng Đông Du và Duy Tân, chú trọng phát triển kinh tế thị trường thông qua việc lập các cơ sở kinh tài (như khách sạn Nam - Trung tại Sài Gòn, khách sạn Minh Tân tại Mỹ Tho, Minh Tân công nghệ xã tại Chợ Lớn) để tạo nguồn lực tài chính cho thanh niên du học và xuất bản báo chí (Lục Tỉnh Tân Văn) nhằm cổ vũ canh tân đất nước.

5. Luận án đã khai thác những nguồn tài liệu lưu trữ chính yếu nào?
Tác giả đã trực tiếp khai thác hai khối phông lưu trữ hành chính - an ninh thuộc địa: Phông Thống đốc Nam Kỳ (tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, TP. Hồ Chí Minh) gồm các báo cáo an ninh của các tỉnh Nam Kỳ từ 1884 đến 1930; và Phông Toàn quyền Đông Dương (tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hải ngoại Pháp - ANOM) gồm các điện tín, công văn mật của chính quyền cấp cao Pháp về tình hình chính trị Nam Kỳ.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Trần Thị Ánh là một công trình nghiên cứu sử học chuyên khảo, phục dựng hệ thống và toàn diện hành trình hoạt động yêu nước của trí thức Nam Kỳ giai đoạn 1884 - 1930. Bằng việc xử lý nghiêm túc các nguồn tư liệu lưu trữ và báo chí đương thời, công trình làm sáng tỏ quy luật chuyển biến tư tưởng từ hệ tư tưởng phong kiến qua khuynh hướng dân chủ tư sản đến khuynh hướng cách mạng vô sản của trí thức phương Nam. Luận án khẳng định rõ nét bản sắc, vai trò và những đóng góp của trí thức Nam Kỳ trong phong trào giải phóng dân tộc, để lại giá trị tư liệu và kinh nghiệm lịch sử cho công tác nghiên cứu và phát huy tiềm năng trí thức hiện nay.