mở đầu cho việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê nin, được thanh niên yêu nước tích cực đón đọc. Trong hồ sơ lưu trữ của Bộ Thuộc địa Pháp có viết về Nguyễn Ái Quốc - người sáng lập báo như sau: “Hà Nội, ngày 27/2/1925/ Tuyệt mật/ Sở cảnh sát Hà Nội nhận được nhiều tin tức nói rằng có một người An Nam vừa từ Châu Âu đến Quảng Châu. Người này bắt liên lạc với bọn cách mạng. Người này sống với bọn Cộng sản Nga và lấy tên là Lý Thuỵ.
Y rất am hiểu hoạt động của những tên cách mạng An Nam ở Châu Âu cũng như phương pháp cách mạng Nga… Là một tên có nghị lực, Lý Thuỵ đã thiết lập một hội yêu nước mới và đào tạo bọn Cộng sản trong khuôn khổ hội này như một số tên di cư sang Hoa Nam. Chúng vừa in những truyền đơn bằng chữ Trung Quốc kêu gọi tham gia hội, một số truyền đơn đã vào Đông Dương” [17]. Báo Thanh Niên ra hàng tuần đến tháng 4-1927, tổng cộng được 88 số. Nguyễn Ái Quốc viết nhiều tin, bài, làm thơ, vẽ tranh châm biếm cho báo.
Ngày Báo Thanh Niên ra số đầu ngày 21-6 đã trở thành ngày Báo chí cách mạng Việt Nam. 19 Ngoài ra, có tờ Công nông, Lính cách mệnh, đã khơi sâu lòng căm th quân cướp nước để cổ vũ nhân dân nổi dậy làm cách mạng, học tập kinh nghiệm lịch sử để đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi cuối c ng. Đến năm 1929, ba tổ chức Cộng sản ra đời, ngày 01-10-1929, báo Búa Liềm, cơ quan ngôn luận trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương ra số l, do Trịnh Đình Cửu, Uỷ viên Trung ương lâm thời phụ trách. Báo in bằng giấy sáp, chữ viết tay, mỗi số 50 bản.
Số cuối c ng, số 9, ngày 5-2-1930. Là người khởi xướng đặt nền móng cho hoạt động báo chí cách mạng của trí thức Việt Nam. Ngoài trực tiếp là người sáng lập, viết bài cho báo chí Nguyễn Ái Quốc thông qua những lớp học ngắn ngày và trường học cách mạng đào tạo ra lớp trí thức làm báo chí đầu tiên như Lê Hồng Sơn, Hồ T ng Mậu, Lê Duy Điếm,. Từ đó, mỗi trí thức cầm bút học cách làm báo của Người để bài viết đạt được mục đích cao nhất, mà trước hết người làm cách mạng nói chung và làm báo cách mạng nói riêng phải có đạo đức cách mạng.
Theo Người tiêu chuẩn đạo đức của nhà báo, là phương tiện điều chỉnh các mối quan hệ xã hội của nhà báo, mà phạm tr pháp luật không điều chỉnh được. Bởi, đạo đức báo chí không chỉ nằm trong phạm vi điều chỉnh thuộc các quy định của luật báo chí hiện hành, mà còn là ý thức, trách nhiệm và phương châm hành nghề của tất cả những người làm báo cách mạng. Sinh thời, Hồ Chí Minh dạy, “.Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hoá; chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương của Đảng, chính sách của Chính phủ; đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động,. Người cho rằng với người làm báo thì cây bút, trang viết là vũ 20 khí sắc bén, đòi h i các nhà báo là phải có phẩm chất chính trị vững vàng và theo đó phải có đạo đức tốt đẹp và trong sáng.
Bản thân Nguyễn Ái Quốc khi với tư cách là một nhà báo cách mạng đã tự trau dồi đạo đức, phong cách của người chiến sĩ trên mặt trận báo chí và chính Người đã đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của báo chí cách mạng Việt Nam. Người làm báo cách mạng tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người làm báo phải có lập trường kiên định, luôn gắn bó với cán bộ, chiến sỹ, nhân dân; thường xuyên học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ lý luận, chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, trau dồi đạo đức nghề nghiệp để có đủ năng lực, kinh nghiệm làm việc một cách tốt nhất, hiệu quả nhất. Hoạt động báo chí là hoạt động chính trị - xã hội, nên nhiệm vụ của báo chí là phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, nhà báo phải là chiến sĩ cách mạng trên mọi mặt trận.
Do đó, lập trường chính trị vững chắc là tiêu chuẩn và là yêu cầu hàng đầu đối với mỗi người làm báo. Bác yêu cầu người làm báo “phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản. “Nhiệm vụ của báo chí là phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Đó là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta, cũng là nhiệm vụ của báo chí ta” [49,tr.
Bên cạnh đó, Người khẳng định báo chí là một bộ phận cấu thành văn hóa, vừa là làm báo cách mạng gắn bó với cán bộ, chiến sỹ, quần chúng nhân dân, sáng tạo các tác phẩm báo chí thiết thực, giữ bản sắc văn hoá, phục vụ quần chúng, cán bộ, chiến sĩ. Nguyễn Ái Quốc coi báo chí là phương tiện xây dựng, truyền bá văn hoá; vừa là đội quân tiên phong trong công tác tư tưởng - văn hóa. Ít 21 nhất cũng phải biết một thứ tiếng nước ngoài để xem báo nước ngoài mà học kinh nghiệm của người ta; khi viết xong một bài, tự mình phải xem lại ba bốn lần, sửa chữa lại cho cẩn thận; tốt hơn nữa, là đưa nhờ một vài người xem và h i họ những câu nào, chữ nào không hiểu thì sửa lại cho dễ hiểu. Báo chí cách mạng không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên báo chí phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu.
Với tư tưởng trên, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành khuôn mẫu cho đội ngũ trí thức Việt Nam làm báo cách mạng trong mọi hoàn cảnh hướng đến mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng người dân lao động và xây dựng một nền văn hóa mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Có thể nói, giai đoạn 1925 – 1930, một dòng báo chí mới xuất hiện trong lịch sử báo chí nước ta - báo cách mạng, xuất bản bí mật không hợp pháp. Đội ngũ trí thức không chỉ sáng lập ra báo mà còn là chủ bút, kiêm thư ký, kiêm bán báo, phát báo,. trở thành hiện tượng độc đáo trong làng báo Việt Nam.
Sự xuất hiện của báo chí cách mạng do Nguyễn Ái Quốc đặt nền móng, viết bài trước năm 1930 tuy không nhiều nhưng đóng vai trò tích cực chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời Căn cứ vào tình hình chung và cụ thể của Việt Nam, từ ngày 06- 01-1930 đến ngày 07-02-1930, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị thành lập Đảng tại Cửu Long - Hương Cảng - Trung Quốc. Trong “Chính cương vắn tắt” và “Sách lược vắn tắt” do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, công bố tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, nêu rõ nhiệm vụ của Đảng là phải ra sức liên hệ và thu phục giới trí thức. Người cho rằng, cách mạng muốn thành công phải xây xựng được lực 22 lượng cách mạng đông đảo.
Do vậy, “phải lôi cuốn tiểu tư sản, trí thức và trung nông về phía giai cấp vô sản” [45,tr. Chủ trương đó của Đảng đã khẳng định lực lượng trí thức là lực lượng quan trọng không thể thiếu của cách mạng Việt Nam, đó vừa là sách lược và cũng là vấn đề chiến lược. Sự coi trọng trí thức của Đảng đã tạo điều kiện cho trí thức Việt Nam tham gia hoạt động của mình vào sự nghiệp cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với chiến lược quy tụ mọi lực lượng làm cách mạng, lực lượng của cách mạng càng đông kẻ th càng bị cô lập.
Tuy nhiên, không phải lúc nào Đảng ta cũng có cái nhìn đúng tầm quan trọng của trí thức, cụ thể như trong phong trào 1930 – 1931, trong thực tế cách mạng mới hình thành khối liên minh công nông, vai trò của trí thức chưa được phát huy thậm chí có nơi còn sai lầm khi xứ ủy Trung Kỳ có khẩu hiệu: “Trí, phú địa hào. Đào tận gốc, trốc tận rễ”. Trong Luận cương tháng 10 – 1930, cho rằng trí thức chỉ hăng hái tham gia cách mạng lúc đầu. Những hạn chế trên, được Đảng đã nhanh chóng điều chỉnh, càng về sau vai trò của trí thức được nhìn nhận, đánh giá đúng hơn, giai đoạn 1936 – 1939, ngoài lực lượng chính là công nông, Đảng đã linh hoạt trong đường lối, tạo điều kiện cho trí thức tham gia đông đảo vào các hoạt động mà trí thức chính là những người chủ chốt, như phong trào Đông Dương Đại hội, đấu tranh trên nghị trường, đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng.
Đặc biệt, là hoạt động sáng lập, viết báo sôi nổi chưa từng có trước đó. Cho d vấp phải sự cản trở của chính quyền thực dân, hoạt động báo chí của trí thức giai đoạn này càng như bị kìm nén có dịp b ng lên với nhiều thể loại báo tiếng Pháp, báo tiếng Việt, báo của Đảng, báo của nhiều tổ chức với các tên gọi khác nhau. Nhưng đa số qua nội dung báo chí trí thức đều lên tiếng bênh vực người dân, kêu gọi nhân dân 23 đứng lên đòi những quyền lợi trước mắt. Trước những đấu tranh bằng ngòi bút của trí thức giai đoạn này đã khiến chính quyền thực dân phải nhân nhượng nhiều quyền lợi cho quần chúng nhân dân.
Sự ra đời của Đảng vừa là điều kiện thuận lợi cho trí thức có cơ hội cống hiến cho cách mạng nhưng cũng đặt người trí thức vào sự chỉ đạo của quan điểm mới, cách nhìn mới đứng trên lập trường giai cấp công nhân trước khi đặt bút làm báo. Đầu năm 1930, Đảng cũng thông qua Nghị quyết về báo chí. “B những tờ báo do Đông Dương Đảng Cộng sản và An Nam Đảng Cộng sản xuất bản trước đây. Ban Trung ương có thể xuất bản một tạp chí lý luận và ba tờ báo tuyên truyền.
B những tờ báo của các Hội quần chúng do Đảng chỉ đạo. Duy trì tất cả những tờ báo do quần chúng chủ trương”. Về tổ chức báo chí, do Đảng thống nhất, nên báo chí của hệ thống các tổ chức Cộng sản trước đây đều ngừng xuất bản, để theo một sự thống nhất của Đảng Cộng sản như quan điểm của Hồ Chí Minh.