CHƯƠNG 1 BOI CANH KINH TE, XÃ HỘI, KHOA HỌC VÀ KĨ THUẬT O PHƯƠNG TÂY VÀ VIỆT NAM NỨA CUÓI THE KỶ XIX 1. Bối cảnh kinh tế - xã hội và khoa học — kĩ thuật ở phương Tây Trước hết cần phải nói rang, sự thang lợi của các cuộc cách tư mạng tư sản ở nhiều quốc gia phương Tây đã cho thấy sức mạnh và sự phát triển của giai cấp tư sản. Vào cuối thế kỷ XIX, đặc biệt là từ năm 1870 trở đi, chủ nghĩa tư bản bước vào một giai đoạn mới, đó là chuyên từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền - giai đoạn dé quốc chủ nghĩa. Chính trong bối cảnh đó, dé phục vụ sự phát triển kinh tế và xã hội, KH&KT cũng đã có sự phát triển mạnh mẽ.
Tình hình kinh tế - xã hội ở phương Tây Ở Anh, sự thành công của cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra trong nửa cuối thế kỷ XVIII kéo dài cho đến nửa đầu thế kỷ XIX đã là động lực cho sự phát triển của nền công nghiệp ở quốc gia này trong giai đoạn sau đó. Ba lĩnh vực chính trong ngành công nghiệp là bông, đúc gang, đường sắt ở Anh phát triển rất sớm và nổi bật [81, tr. Đối với lĩnh vực đường sắt, cho tới năm 1850, số km của Anh đã vượt xa các nước khác như Pháp, Đức, Ý, song song với đường sắt, vận chuyển đường biển ở Anh cũng có bước phát triển mạnh mẽ. Thời kì này, ngoài việc tàu bang hơi nước được sử dụng nhiều, Anh còn là quốc gia cung cấp tàu biên cho hầu hết các nước khác, kéo theo đó là sự phát triển của luyện kim, cơ khí cũng như việc chuyên chở hàng hóa Anh đi bán nhiều nơi [89, tr.
Từ những năm 70 của thé ky XIX, do ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng, Anh không còn duy trì được vi trí dan đầu trong sản xuất công nghiệp. Sản lượng ngành thép của Anh vào năm 1880 là 1,3 triệu tấn, đến năm 1900 là 4,9 triệu tấn; trong khi đó của Mĩ và Đức tăng lần lượt là từ 1,2 triệu tấn lên 10,2 triệu tấn và 0,7 triệu tấn lên 6,4 triệu tấn [89, tr. Nông nghiệp ở Anh vẫn được chú trọng và đầu tư, từ năm 1850 đến 1870, nông nghiệp phát triển và được xem là thời kì phôn vinh chưa từng có, tỉ lệ tư bản đầu tư vào nông nghiệp lên tới 1/3, xu hướng chú trong tăng cường vào ngành chăn nuôi [89, tr. Tuy nhiên vào khoảng 30 năm cuối thế kỷ XIX, nền nông nghiệp Anh cũng rơi vào tình trạng khủng hoảng, do giá cả nhập khâu lúa mì ở bên ngoài rẻ hơn so với việc sản xuât trong nước, giai câp tư sản đã 11 chuyển từ đầu tư nông nghiệp sang việc buôn bán các sản phẩm lương thực với mục đích kiếm lời.
Xã hội nước Anh cũng trải qua nhiều biến động. Giai cấp tư sản đang trong đà phát triển, trong khi đó đời sống của giai cấp công nhân rơi vào cảnh cực khổ. Chính vì vậy đã xảy nhiều cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đối với chính phủ. Giai cấp công nhân nhìn chung chưa có quyền lợi về chính trị.
Mặc dù chế độ chính trị ở Anh là là chế độ hai đảng: đảng Tự do và dang Bao thủ, song quyền lực chủ yếu van nam trong tay giai cấp tư sản, do đó cả hai đảng về cơ bản đều hướng đến những chính sách nhằm hạn chế hoạt động đấu tranh của giai cấp tư sản trong xã hội. Ở Pháp thời kì nay bắt đầu có sự thay đổi về một số ngành kinh tế, đặc biệt là việc bắt đầu tập trung sản xuất với quy mô lớn. Những lò luyện kim giảm đi về mặt số lượng nhưng lại tăng về mặt sản phâm tạo. Bên cạnh đó, những cơ sở kinh doanh ở quy mô vừa và nhỏ vẫn còn tồn tại.
Cuối những năm 60 của thế kỷ XIX, 75% chủ xưởng vẫn là người kinh doanh các cơ sở vừa và nhỏ, 60% công nhân làm việc tại đây [89, tr. Trong ngoại thương, Pháp cũng thực hiện buôn bán với nhiều quốc gia khác như Đức, Ý, Hà Lan. Cho đến giữa thế kỷ XIX, Sở giao dịch Paris trở thành một thị trường buôn bạc ở châu Âu, đồng thời phần lớn số tư bản này được dùng dé xuất khâu ra các nước chậm phát triển ở châu Âu và các thuộc địa dưới hình thức ngân hàng cho vay lãi hoặc đầu tư khai thác ở những quốc gia đó. Năm 1868, 14 chính phủ nước ngoài đã vay nợ của ngân hàng Pháp lên tới con số 33 tỉ phrăng, nước Pháp dần trở thành kẻ cho vay trên thị trường thế giới [89, tr.
Có thé nói, trong lich sử phát triển kinh tế tư bản ở Pháp, giữa thế kỷ XIX được xem như một giai đoạn quyết định quan trọng trong lịch sử hệ thống tín dụng của chủ nghĩa tư bản Pháp [30, tr. Cho tới khoảng 30 năm cuối thế kỷ XIX, nhìn chung nền công nghiệp của Pháp vẫn ghi nhận sự phát triển về hệ thống đường sắt và tác dụng của nó đối với một số ngành công nghiệp khai mỏ. Dù vậy, việc vướng vào cuộc chiến tranh với Đức đã làm chậm đi sự phát triển của nên sản xuất công nghiệp. Bên cạnh đó, nền tư bản ngân hàng của Pháp vẫn tiếp tục phát triển với việc cho vay lãi.
Lénin cũng đã cho răng: “Khác với chủ nghĩa dé quốc thực dân Anh, chủ nghĩa dé quốc Pháp có thé gọi là chủ nghĩa dé quốc cho vay nặng lai” [72, tr. 12 Về mặt xã hội, ở Pháp từ nửa cuối thế kỷ XIX trở đi cũng có những thay đổi to lớn. Chủ nghĩa tư bản phát triển cũng đồng nghĩa với nhiều tầng lớp khác trong xã hội chịu sự bất công. Những người công nhân bị kéo dài thời gian làm việc từ 13 đến 16 giờ, phụ nữ và trẻ em bị bóc lột cùng cực, năm 1867, lương của nữ công nhân chi bằng 55% của nam giới, trẻ em lao động chi bằng 12%, một số trẻ em dưới 8 tuổi cũng được xí nghiệp thuê dé làm việc vì tiền lương rẻ hơn so với nam giới' [89, tr.
Tháng 3 năm 1871, cuộc cách mạng vô sản diễn ra ở Pháp nhằm lật đồ chính quyền cách mạng tư sản. Thời gian này, cuộc sống của công nhân và người nghèo được cải thiện ở nhiều mặt, tuy nhiên công xã Paris không tổn tại được lâu dài vì nhiều lí do, song ý nghĩa của nó đối với phong trào cách mạng vô sản là điều không thể phủ nhận. Với sự hòa nhập “chậm chạp” của những người làm ruộng vào nền kinh tế chung của thị trường, nông nghiệp ở Pháp vẫn chiếm một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của đất nước.Dù vậy, phần lớn người nông dân vẫn phải chịu sự bóc lột của các tầng lớp có thé lực trong xã hội, van nạn cho vay nặng lãi, nạn nô dịch, thuế má. đều đè lên vai của người nông dân, dẫn đến việc nhiều người bị phá sản, buộc phải rời bỏ quê hương để ra thành thị.
Đến những năm cuối thế kỷ XIX, chính phủ đã đề ra thuế quan Méline vào năm 1892 với mục đích cơ bản là bảo hộ và duy trì số lượng lao động trong ngành nông nghiệp. Ở Đức, sau cuộc cách mạng năm 1848, công nghiệp ở Đức cũng đã có sự phát triển so với thời kì trước. Sản lượng than, thép, sắt trong khoảng thời gian 1850 đến 1860 tăng gap đôi; số lượng động cơ máy hơi nước từ năm 1846 đến 1861 tăng lên gấp 6 lần. Chiều dài đường sắt nếu vào năm 1850 chỉ rơi vào khoảng hơn 5800 km thì cho đến năm 1860 đã tăng lên gấp đôi [89, tr.
Dù vậy, bối cảnh nước Đức thời kì này vẫn đang trong tình trạng chia cắt và nó ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung. Sau khi được thống nhất, nước Đức càng có điều kiện phát triển ở nhiều mặt. Con số thống kê về chiều dài đường sắt hai năm 1871 và 1900 đã cho thấy kết quả khả quan, từ 17.878km, gấp khoảng 2,3 lần; sản phẩm công nghiệp tăng từ năm 1880 đến 1900 đạt con số 163%, trong khi đó Anh chỉ đạt 49% và Pháp là 65% [89, tr. Việc phát triển công thương nghiệp cũng đã tác động đến dân cư nước Đức.
Sô lượng dân cư, công nhân bat dau có sự tăng vê sô lượng. Những trung Ị Số lượng người ăn mày và người không đủ mức sống thời kì này ở Pháp lên tới hàng triệu người. Bên cạnh việc tiên lương giảm thì giá cả của bánh mì và các loại thực phâm lại tăng tới 50%. 13 tâm công thương nghiệp và nhà máy tập trung bắt đầu xuất hiện trong những thành phố của nước Đức.
Đồng thời ở Đức, sự xuất hiện các tô chức lũng đoạn cũng đã diễn ra. Những cácten, xanhdica trong lĩnh vực khai thác than, sản xuất khí gidi. xuat hién va thé hién thé manh gan như độc quyền của họ. Đối với nông nghiệp ở Đức, số lượng ruộng đất chủ yếu nằm trong tay của quý tộc, địa chủ.
Những người làm thuê như tá điền, cố nông thường là đối tượng bị bóc lột nặng nề nhất. Bên cạnh những người nông dân, công nhân cũng là giai cấp chịu nhiều sự lép về trong xã hội. Năm 1869, Đảng Xã hội dân chủ Đức đã được giai cấp công nhân thành lập, thê hiện vai trò và tiếng nói trong bức tranh chính trị của quốc gia này. Dưới thời cầm quyền của mình, Bixmác cũng gặp phải nhiều sự phản đối trong xã hội, đặc biệt là từ những đảng có liên quan nhiều đến Cơ đốc giáo.
Dé đối phó với van dé này, Bixmác đã dùng luật pháp để hạn chế sự chi phối của nhà thời, giáo sĩ tới nhiều mặt của xã hội. Đối với Đảng xã hội dân chủ, Bixmác đã ban hành đạo luật đặc biệt vào năm 1878 nhằm vào các cơ sở và tổ chức của giai cấp công nhân, nhằm hạn chế sự hoạt động của giai cấp này cũng như đảng viên của Đảng. Đối với một nước tư bản “trẻ” như Hoa Kỳ, thời kì này cũng đã có nhiều sự biến chuyền. Kết thúc cuộc nội chiến 1861 — 1865 đã mở ra một bước ngoặt mới về cả xã hội và sự phát triển của công nghiệp.
Đối với xã hội, một trong những van đề nối bật là việc đối xử với người da đen. Những người da đen vốn trước đây chỉ là nô lệ nay đã trở thành người có quyền lợi và nghĩa vụ. Ở một số nơi, người da đen được phép tham gia bầu cư và trở thành một phần của chính quyền.