CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI DOANH NGHIỆP 1. Định nghĩa CSR là một khái niệm đa chiều (Carroll, 2016) và đã phát triển trong suốt nhiều năm qua. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CSR. Mỗi DN, tổ chức, chính phủ nhìn nhận CSR dưới những góc độ và quan điểm riêng, phụ thuộc vào điều kiện, đặc điểm và trình độ phát triển của mình (Hồ Thị Vân Anh, 2018).
Ngoài ra, định nghĩa về CSR cũng có thể khác nhau giữa các quốc gia, nền văn hóa, cộng đồng và trong các thời kỳ khác nhau (Leeuw, 2017). Do đó, phần này đánh giá khái niệm CSR đã phát triển như thế nào theo thời gian và đặc biệt có mối liên hệ với các lý thuyết bác bỏ hay ủng hộ việc tham gia vào các hoạt động CSR cũng như với các hướng dẫn để thực hiện và báo cáo CSR. Từ đó, khái niệm CSR của ngân hàng cũng được rút ra. Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong thế kỷ 20 Nguồn gốc của khái niệm CSR đã xuất hiện từ những năm 1930 (Agudelo và cộng sự, 2019).
Định nghĩa đầu tiên về CSR được đưa ra trong nghiên cứu của Bowen, cụ thể là cuốn sách có nhan đề Trách nhiệm xã hội của doanh nhân (Social Responsibilities of the Businessmen) xuất bản năm 1953. Trong suốt những năm 1960, các tài liệu học thuật đã mang đến một cách hiểu mới về khái niệm CSR trong đó thừa nhận sự phù hợp của mối quan hệ giữa các tập đoàn và xã hội (Agudelo và cộng sự, 2019), trong đó chủ yếu quan niệm CSR dưới dạng trách nhiệm xã hội của doanh nhân (Low, 2016) và các phản ứng bên ngoài của tổ chức được xem là định hướng nghiên cứu (Vương Thanh Trì, 2019). Khái niệm CSR tiêu biểu cho giai đoạn này là của Davis (1960): Doanh nhân có nghĩa vụ rộng lớn đối với xã hội về giá trị kinh tế và con người. Do đó, trách nhiệm xã hội của doanh nhân cần phải tương xứng với quyền lực xã hội của họ.
Một số học giả đã liệt kê khái niệm này trong các tác phẩm của mình (Low, 2016; Agudelo và cộng sự, 2019; Vương Thanh Trì, 2019). Trong khi đó McGuire (1963) cho rằng CSR là nói tới một DN không chỉ có nghĩa vụ về mặt kinh tế và chấp hành luật pháp mà còn phải có những trách nhiệm nhất định khác đối với xã hội. Những trách nhiệm này phải được mở rộng và vượt lên trên những nghĩa vụ và bổn phận khác. Bước sang thập niên 70, khái niệm CSR chứng kiến những quan niệm trái chiều của các học giả.
Vào thời điểm này, người đoạt giải Nobel Kinh tế là Milton Friedman đã xuất 5 bản một bài báo với tiêu đề là “Trách nhiệm xã hội của DN là tăng lợi nhuận”. Ông cho rằng, trách nhiệm xã hội của DN, có một và chỉ một trách nhiệm duy nhất đó là tối đa hóa lợi nhuận trong khuôn khổ luật chơi của thị trường và không bao gồm các hành động dẫn đến sự hiểu lầm và gian lận (Friedman, 1970). Milton Friedman cũng là học giả đề xuất nên lý thuyết Cổ đông – lý thuyết phản đối các DN tham gia vào các hoạt động CSR. Tuy nhiên các học giả cùng thời với ông lại không quan niệm như vậy.
Votaw (1972) nhấn mạnh thuật ngữ CSR có nghĩa là công ty có trách nhiệm tại địa phương, nơi đang hoạt động, tuy nhiên thuật ngữ này không hoàn toàn giống nhau cho các tổ chức khác nhau. Còn Davis (1973) định nghĩa CSR bao gồm sự đáp ứng và kết hợp tất cả các nhu cầu vượt trên các yêu cầu về kinh tế, kỹ thuật và luật pháp, để đạt được các mục tiêu xã hội cũng tốt như các mục tiêu kinh tế. Sethi (1975) thì cho rằng CSR hàm ý nâng hành vi của DN lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội đang phổ biến. Định nghĩa thống nhất đầu tiên về CSR là của Carroll trình bày năm 1979 (Agudelo và cộng sự, 2019).
CSR là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện của một tổ chức mà xã hội mong đợi trong mỗi thời điểm nhất định (Carroll, 1979). Như vậy, các mục tiêu kinh tế - xã hội của các công ty như một phần không thể thiếu của khuôn khổ kinh doanh chứ không phải là các khía cạnh không tương thích. Tiếp theo, đến năm 1991, Carroll trình bày Kim tự tháp về trách nhiệm xã hội của DN để đại diện cho những gì ông xác định là bốn trách nhiệm chính của bất kỳ công ty nào và đặt ra các trách nhiệm cụ thể cho các công ty một cách rõ ràng (Carroll, 1991). Định nghĩa, kim tự tháp CSR góp phần cung cấp cơ sở để xác định những hoạt động nào của DN được coi là CSR.
Cũng trong những năm cuối của thế kỷ 20, khi việc thông qua các hiệp định quốc tế về phát triển bền vững, ở một mức độ nào đó, đã phản ánh ý thức ngày càng tăng về tác động của hành vi DN. Ví dụ thành lập Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển năm 1983, Liên hợp quốc thông qua Nghị định thư Montreal năm 1987, thành lập Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu năm 1988, thành lập Cơ quan Môi trường Châu Âu vào năm 1990 và hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển tổ chức tại Rio de Janeiro đã chuyển thành việc thông qua Chương trình nghị sự 21 và Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu năm 1992. Điều này thể hiện sự thay đổi trong cách hiểu về CSR và kết quả là các tổ chức và công ty quốc tế đều coi CSR là một cách để cân bằng những thách thức và cơ hội của thời gian và việc thể chế hóa nó bắt đầu lan rộng trên toàn cầu (Agudelo và cộng sự, 2019). Định nghĩa tiêu biểu cho giai đoạn này 6 là của Hội đồng DN Thế giới về Phát triển Bền vững (World Business Council for Sustainable Development - WBSCD) đưa ra năm 1999 coi CSR như là các cam kết của DN dành cho phát triển kinh tế bền vững thông qua việc cải thiện chất lượng cuộc sống của người lao động, gia đình, cộng đồng địa phương và cho toàn xã hội theo cách có lợi cho cả DN cũng như sự phát triển chung của xã hội (WBCSD, 1999).
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong thế kỷ 21 Thế kỷ 21 chứng kiến sự phát triển “nở rộ” trong việc công bố các bài viết học thuật liên quan đến CSR. Theo Agudelo và cộng sự (2019) các xuất bản về CSR của Science Direct đã tăng hơn gấp đôi từ 1.845 vào năm 2017 (2,59 lần), với Web of Science, chúng tăng gần gấp bốn lần từ 479 lên 1.816 trong cùng một năm (3,79 lần). Trong trường hợp của ProQuest, số lượng xuất bản đã tăng đáng kể từ năm 2010 đến năm 2016, từ 5.188, nhưng giảm xuống còn 5. Bối cảnh đó đã tạo cơ hội cho CSR tiếp tục phát triển về mặt lí luận và thực tiễn, theo đó định nghĩa về CSR cũng vô cùng phong phú, theo thống kê của Low (2016) từ năm 2000 cho đến năm 2009 đã có 40 định nghĩa được đưa ra bởi các tổ chức hay học giả.
Một định nghĩa phổ biến về CSR được tìm thấy trong nhiều bài viết học thuật (Islam và cộng sự, 2013; Low, 2016; Leeuw, 2017; Lê Phước Hương và Lưu Tiến Thuận, 2017b) là của Ủy ban Châu Âu (European Commission - EC) được đưa ra năm 2001. Họ định nghĩa CSR là một khái niệm theo đó các DN tích hợp các mối quan tâm về xã hội và môi trường trong hoạt động kinh doanh và trong sự tương tác của họ với các bên liên quan trên cơ sở tự nguyện (EC, 2001). Sau đó vào năm 2011, họ đã đưa ra khung khổ mới, mở rộng phạm vi và các khía cạnh của CSR, theo đó CSR là trách nhiệm của DN đối với các tác động của họ đối với xã hội. Tôn trọng luật pháp hiện hành và các thỏa thuận tập thể giữa các đối tác xã hội là điều kiện tiên quyết để đáp ứng trách nhiệm đó.
Để đáp ứng đầy đủ trách nhiệm xã hội của DN, DN cần có một quá trình để tích hợp các mối quan tâm về xã hội, môi trường, đạo đức, quyền con người và người tiêu dùng vào hoạt động kinh doanh và chiến lược cốt lõi với sự hợp tác chặt chẽ với các bên liên quan (EC, 2011). Một định nghĩa phổ biến và thường được sử dụng khác để giúp các tổ chức phát triển các chính sách CSR là định nghĩa của Hiệp ước Toàn cầu Liên hợp quốc (United Nations Global Compact - UNGC) được đưa ra vào năm 2010. Theo đó, CSR là một sáng kiến chính sách chiến lược cho các DN cam kết điều chỉnh hoạt động và chiến lược của họ với 10 nguyên tắc trong các lĩnh vực quyền con người, lao động, môi trường và chống tham 7 nhũng (UNGC, 2010). Kể từ khi UNGC ban hành 10 nguyên tắc CSR, gần 12.000 công ty trên toàn thế giới đã cam kết áp dụng các chính sách bền vững và có trách nhiệm với xã hội mà nó kêu gọi xoay quanh các chủ đề về nhân quyền, lao động, môi trường và chống tham nhũng (Moshkin, 2019).
Cũng trong năm 2010, tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (International Organization for Standardization - ISO) đã đưa ra hướng dẫn tự nguyện ISO 26000 về CSR. Nội hàm của CSR gồm 7 nhân tố cốt lõi: (i) Quản trị DN nhằm đảm bảo lợi ích cho cổ đông; (ii) Thực hiện tốt quyền con người; (iii) Quan hệ và đối xử tốt với người lao động; (iv) Bảo vệ môi trường; (v) Công bằng trong hoạt động; (vi) Bảo đảm lợi ích và an toàn cho người tiêu dùng; (vii) Đóng góp cho cộng đồng xã hội. Đây là một hướng dẫn phổ biến để giúp các tổ chức thực hiện các hoạt động CSR (Stanislavska và cộng sự, 2010; Alpana, 2014; Ruiz, 2015; Trần Thị Hoàng Yến, 2016). Đồng thời nó cũng được các học giả sử dụng để thiết kế các chủ đề đo lường CSR, ví dụ tại Việt Nam có Trần Thị Hoàng Yến (2016).
Không chỉ dừng lại ở việc khuyến khích các DN thực hiện CSR, trong thời gian gần đây, các quốc gia, khu vực còn ban hành các quy định tạo hành lang pháp lý buộc các DN phải công bố thông tin CSR. Chỉ thị 2014/95/EU do EC ban hành vào tháng 12 năm 2014 hay thông tư 155/2015/TT-BTC của Bộ tài chính có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 là những ví dụ.