MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài Chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước đã xác định, Việt Nam phải đổi mới, mở cửa và chủ động hội nhập kinh tế quốc. Năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên của ASEAN. Đến năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO.
Nước ta đã cam kết thực hiện nhiều thỏa thuận song phương, đa phương với các quốc gia trong khối ASEAN, với EU, Nhật Bản. Đặc biệt, hiện nay, Việt Nam đã tham gia Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Trong quá trình hội nhập này, các doanh nghiệp chính là chủ thể chịu tác động trực tiếp từ các quy định của quá trình cạnh tranh quốc tế trong các hiệp định song và đa phương, trong đó có yêu cầu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với các vấn đề bảo vệ môi trường, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ người lao động và những yếu tố khác của phát triển bền vững. Đối với các doanh nghiệp tại những quốc gia đang phát triển như Việt Nam, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc đảm bảo các quyền cơ bản của người lao động về an toàn, vệ sinh lao động, trả lương bình đẳng, tự do hiệp hội.
thật sự là một hệ thống giám sát chất lượng sản phẩm khắt khe và đang đặt ra cho doanh nghiệp nhiều bài toán cần phải được giải quyết. Nhận thức được những khó khăn đó, Nhà nước ta đã có nhiều hành động nhằm thúc đây trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp như sửa đổi Bộ luật Lao động, Luật Công đoàn, Luật Bảo hiểm xã hội, ban hành Luật Việc làm, trong đó chú trọng đến trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc thực hiện các tiêu chuẩn lao động hay tổ chức các cuộc hội thảo, tập huấn cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến nay, các quy định pháp luật vẫn chưa mang lại hiệu quả tích cực trong việc tăng cường thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa, phạm vi, chuẩn mực của các hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Điều này đang đặt ra đòi hỏi cấp thiết là xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến trách nhiệm xã hội một cách có hệ thống và dễ áp dụng đối với doanh nghiệp. Trong hoạt động nghiên cứu, từ những năm 2000, đặc biệt trong năm năm trở lại đây, đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu phân tích các quan niệm và nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Một số công trình đã có có gắng đi vào đánh giá thực tiễn thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại một số doanh nghiệp của Việt Nam. Tuy vậy, những bài viết, công trình nghiên cứu này chỉ mới tập trung nghiên cứu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp dưới góc độ kinh tế, quản trị doanh nghiệp chứ chưa đi sâu phân tích các trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp như đảm bảo quyền tự do hiệp hội, an toàn vệ sinh lao động, trả lương bình đẳng, chống phân biệt đối xử, chống lao động cưỡng bức.
Một vài tác giả đã đưa các kiến nghị để thúc đây thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhưng những kiến nghị này chỉ dừng lại ở tính định hướng mà chưa đưa ra giải pháp cụ thể. Trong hoạt động đào tạo pháp luật lao động, ở cấp độ cử nhân, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hầu như chỉ dừng lại trách nhiệm của người sử dụng lao động trong vấn đề đảm bảo việc làm cho người lao động. Tương tự, ở cấp độ cao học, sinh viên cũng chưa được tiếp cận đầy đủ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Một trong các nguyên nhân dẫn đến thực trạng này chính là đến nay, ở các cơ sở đào tạo luật tại Việt Nam vẫn chưa có một tài liệu nào mang tính hệ thống, đầy đủ về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Trước thực trạng trong việc xây dựng chính sách, quy định pháp luật, nghiên cứu và đào tạo về trách nhiệm xã hội của đoanh nghiệp như trên, chúng tôi lựa chọn đăng ký thực hiện đề tài “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ lao động dưới góc độ pháp lý”. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước - Ruth V. Conley and Deborah E.
Rupp, “Corporate governance and social responsibility: a comparative analysis of the UK and the US”. Các tác giả tập trung phân tích và so sánh việc quản trị doanh nghiệp và thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại hai quốc gia Anh và Hoa Kỳ. Trong bài viết này, các tác giả chỉ phân tích dưới góc độ kinh tế chứ không phân tích dưới góc độ pháp lý. - Mette Andersen and Tage Skjoett-Larsen, “Corporate social responsibility in global supply chains”.
Tuong ty nhw bai viét “Corporate Governance and Social Responsibility: a comparative analysis of the UK and the US”, các tác giả cũng chỉ nghiên cứu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp dưới góc độ kinh tế chứ không đi vào các vấn đề pháp lý. - Brigitte Hamm, “Corporate social responsibility in Vietnam: integration or mere adaptation?”. Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã trình bay kha chi tiết về việc thúc đây thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thông qua các cơ quan, tô chức như Bộ Lao động — Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, tác giả không đưa ra bat ky kién nghi nao để thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Việt Nam.
- Erik Bergelin and Martin Wastesson, “Corporate social responsibility in Vietnam - A Study of the relation between Vietnamese suppliers and their International customers”. Day là một nghiên cứu khá chi tiết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Việt Nam. Bên cạnh những vấn đề cơ bản như lịch sử, định nghĩa về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, tác giả phân tích vai trò trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với doanh nghiệp cung ứng sản phẩm và đối với các công ty đa quốc gia. Đặc biệt, tác giả đã nghiên cứu, phân tích việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại một số công ty của Việt Nam.
Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị có ý nghĩa đối với Việt Nam. Tuy nhiên, công trình này chưa thể hiện rõ nét trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quan hệ pháp luật lao động. - Frans Pennings, Yvonne Konijn and Albertine Veldman (eds) (2008), Social responsibility in labour relations, Kluwer law international BV, The Netherlands. Hirschland, “Corporate Social Responsibility and the Shaping of Global Public Policy”, Hardcover (Dec.
Tac gia ban vé tam quan trong của CSR trong công ty như: Các quy định kinh doanh toàn cầu mới — su hiéu biết của công ty về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và CSR thực hành đáp ứng lý thuyết — quản trị toàn cầu và mạng lưới chính sách công cộng toàn cầu. - Oyvind Ihlen, Betteke Van Ruler, Magnus Fredriksson, “Public Relations and Social Theory. Key Figures and Concepts” (Routledge Communication Series). Tác giả bàn về vấn đề: Quan hệ công chúng và lý thuyết xã hội nới rộng phạm vi ly thuyết của quan hệ công chúng.
tập trung vào khái niệm như niềm tin, tính hợp pháp, sự hiểu biết, và phản xạ, cũng như về các vấn đề về hành vi, năng lượng, và ngôn ngữ. - Muhammad Yunus, “Building Social Business: The New Kind of Capitalism That Serves Humanity’s Most Pressing Needs”. Tac gia muén gitp cac doanh nghiệp thấy được vai trò của hoạt động kinh doanh. Qua những gương điển hình mà các doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn tới vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Ở Liên bang Nga, vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được nhiều nhà khoa học về kinh tế và pháp luật luật tìm hiểu và nghiên cứu sâu sắc, bởi lẽ vấn đề này là thực sự quan trọng cho các doanh nghiệp, người lao động, nói riêng, cho nền kinh tế đất nước, xã hội, nói chung, nhất là trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Chính vì vậy, có rất nhiều công trình khoa học về đề tài này được công bố. Trong quá trình thực hiện đề tài, Chủ nhiệm đề tài và nhóm nghiên cứu sẽ cố gắng để có được những công trình khác có liên quan về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, được công bố bằng tiếng Nga dé bổ sung nhằm làm cho công trình có giá trị cao hơn. Trước mắt, nhóm nghiên cứu tham khảo một số công trình tiêu biêu được liệt kê dưới đây.[oHuapos KOpHOpaTHBHaäd COHHAIIbHAd OrBercrBeHHocTrs M 2006.
Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã đề cập đến các vấn đề như: Khái niệm, bản chất quan hệ lao động, pháp luật quốc tế về quan hệ lao động; khái niệm trách nhiệm xã hội, ý nghĩa của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; quan niệm về trách nhiệm xã hội ở các nước ngoài (Châu Âu, Mỹ); và kinh nghiệm về việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Nga. - COHHAJIbHAđ OTB€TCTB€HHOCTb ỐH3H€Ca B DOCCHH H 3a DyỐ©ẴXOM - VqeÕHoOe nocoốwe Kazan 2008. Tác giả đã đi sâu phân tích về: Những vấn đề lý luận về việc hình thành hệ thống trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở Nga; khái niệm về trách nhiệm xã hội trong kinh doanh, chương trình xã hội của các doanh nghiệp; bản chất, những tiêu chí cơ bản của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; kinh nghiệm của một số nước về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; lợi ích của doanh nghiệp trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội; đánh giá thực trạng vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Nga, nguyên nhân của thực trạng; và kinh nghiệm nước ngoài trong việc thực hiện chính sách trách nhiệm xã hội. - Kinh tế thị trường xã hội ở Nga: Định hướng phát triển- Moskovtsev V.
Trong bài viết của mình, tác giả đã đi vào phân tích: Đặc điểm nền kinh tế thị trường ở Nga; nguyên tắc về chính sách xã hội ở Nga; kinh nghiệm nước ngoài về thị trường xã hội; và yêu cầu và tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Nga. - bH3H€C KâK CYỐb€KT COHHAIbHOÍ HOJIHTHKH: /IOIDKHHK, ÕJIATOH€T€Ib, naptHep? / A. He3aBHCHMHIĂ HHCTHTYT COHMAIbHOI HOIHTHKH. Thông qua công trình này, tác giả đã làm rõ các vấn đề: Yêu cầu về việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với doanh nghiệp ở các nước phát triển; quá trình hình thành và phát triển vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp; và những khó khăn, tồn tại trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội ở Nga.