Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học "Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính" do nghiên cứu sinh Nguyễn Kim Chi thực hiện tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2016, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí và TS. Trịnh Tiến Việt, thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự (mã số: 62 38 01 04).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Quản lý hành chính là chức năng cơ bản và bộ phận quan trọng nhất của hoạt động quản lý xã hội. Nhằm bảo đảm sự ổn định và trật tự quản lý hành chính (TTQLHC), Nhà nước áp dụng nhiều biện pháp xử lý, trong đó trách nhiệm hình sự (TNHS) là hình thức nghiêm khắc nhất. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự (PLHS) giai đoạn 2005 – 2015 cho thấy tình hình tội phạm xâm phạm TTQLHC diễn biến phức tạp, xuất hiện các đợt tăng giảm bất thường về số lượng bị cáo. Số liệu từ Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) phản ánh: năm 2005 có 896 vụ với 1.744 bị cáo bị xét xử sơ thẩm; năm 2009 có 1.900 bị cáo; năm 2012 có 1.404 bị cáo; năm 2013 có 1.484 bị cáo.

Bên cạnh đó, quy định của Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 bộc lộ nhiều điểm bất cập: khung hình phạt tội Chống người thi hành công vụ (khoản 1 Điều 257) ngang bằng với tội Cố ý gây thương tích (khoản 1 Điều 104); tội Chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy con dấu, tài liệu của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội (Điều 268) có khung hình phạt chưa tương xứng; vướng mắc trong áp dụng tình tiết định khung "gây hậu quả nghiêm trọng". Dù BLHS năm 2015 đã sửa đổi nhiều nội dung nhưng vẫn còn tồn tại các vấn đề về phân định tội danh và kỹ thuật lập pháp (như giữa Điều 341 và Điều 174, Điều 343). Khoa học luật hình sự trong nước trước đó chủ yếu tiếp cận các tội danh đơn lẻ dưới góc độ dấu hiệu pháp lý hoặc tội phạm học, thiếu vắng một công trình nghiên cứu tổng thể, có hệ thống ở cấp độ luận án tiến sĩ về chế định TNHS đối với nhóm tội xâm phạm TTQLHC.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu là làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC, đánh giá thực tiễn xét xử giai đoạn 11 năm (2005 – 2015), từ đó đề xuất các giải pháp mang tính hệ thống, đồng bộ nhằm hoàn thiện quy định của BLHS Việt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tế.

Để thực hiện mục tiêu trên, luận án xác định 7 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá tổng quan tình hình các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài ở trong và ngoài nước, nhận xét và chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
  2. Làm sáng tỏ và sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC với những cách tiếp cận khác nhau.
  3. Phân tích cơ sở của TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC với các cách tiếp cận khác nhau; làm rõ hình thức của TNHS đối với các tội phạm này, đặc biệt là hình phạt và các biện pháp tư pháp.
  4. Nghiên cứu so sánh quy định về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC trong BLHS một số nước trên thế giới và rút ra nhận xét.
  5. Hệ thống hóa lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay và rút ra đánh giá.
  6. Phân tích tình hình xét xử và thực tiễn áp dụng quy định về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC ở nước ta trong giai đoạn 11 năm (2005 – 2015) và khảo sát 200 bản án trong cùng giai đoạn để chỉ ra tồn tại, hạn chế cùng nguyên nhân cơ bản.
  7. Luận chứng, đề xuất kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định của BLHS Việt Nam về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC và các giải pháp bảo đảm áp dụng các quy định tương ứng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC trong luật hình sự Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về lập pháp: Tiến trình phát triển của PLHS Việt Nam từ năm 1945 đến thời điểm năm 2016 (trọng tâm là BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015) cùng quy định của BLHS một số quốc gia.
    • Về thực tiễn: Toàn bộ số liệu thống kê xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân các cấp trên phạm vi toàn quốc trong 11 năm (2005 – 2015) và mẫu khảo sát chuyên sâu gồm 200 bản án hình sự sơ thẩm trong giai đoạn này.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng thuật và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo các nhóm nội dung:

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

Vị trí và khoảng trống nghiên cứu của luận án

Qua tổng thuật tài liệu, tác giả xác định các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở các bài viết nghiên cứu dấu hiệu pháp lý, phân tích tình tiết định khung định tội, bình luận từng điều luật riêng biệt (như Điều 257, 258, 263, 264 BLHS) hoặc nghiên cứu khía cạnh tội phạm học trên một địa bàn hẹp. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, hình thức thực hiện TNHS (hình phạt và biện pháp tư pháp) gắn với nhóm tội xâm phạm TTQLHC trên phạm vi cả nước trong giai đoạn 11 năm (2005 – 2015) để đưa ra định hướng lập pháp và giải pháp thi hành cụ thể.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp. Khung lý thuyết của luận án tiếp thu có chọn lọc các học thuyết về TNHS:

  • Khái niệm TNHS theo ba bình diện: nội dung (vật chất), hình thức và quy phạm pháp lý (GS. Lê Văn Cảm).
  • Mối quan hệ giữa TNHS và hình phạt theo mô hình "mục đích và phương tiện thực hiện mục đích", cùng hệ thống các hình thức TNHS (GS. Đỗ Ngọc Quang).
  • Cơ sở của TNHS căn cứ trên Điều 2 BLHS và lý luận về cấu thành tội phạm (GS. Đào Trí Úc, GS. Nguyễn Ngọc Hòa).

Luận án xác lập hai định nghĩa làm nền tảng phân tích:

  1. Khái niệm các tội xâm phạm TTQLHC: Là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do những người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy định của Nhà nước về TTQLHC.
  2. Khái niệm TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC: Là nghĩa vụ pháp lý mà người đã thực hiện hành vi bị coi là tội phạm xâm phạm TTQLHC phải chịu, được thể hiện bằng biện pháp cưỡng chế của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng theo quy định của PLHS.

Đặc điểm TNHS của nhóm tội này bao gồm: là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất; là sự lên án của Nhà nước đối với người phạm tội thông qua biện pháp cưỡng chế hình sự; là hậu quả pháp lý chỉ phát sinh khi có sự việc phạm tội xảy ra; mang tính chất cá nhân (chủ thể nhóm tội này trong BLHS không bao gồm pháp nhân thương mại); mang tính chất công; có mối quan hệ chặt chẽ với hình phạt.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Dùng để làm rõ các khái niệm, cơ sở triết học, cơ sở pháp lý và các hình thức TNHS.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh sự phát triển của PLHS Việt Nam qua các thời kỳ (từ 1945 đến nay) và so sánh quy định của BLHS một số nước trên thế giới.
  • Phương pháp thống kê xã hội học: Xử lý và phân tích số liệu xét xử sơ thẩm của ngành Tòa án trong giai đoạn 11 năm (2005 – 2015).
  • Phương pháp điều tra khảo sát án điển hình: Khảo sát trực tiếp hồ sơ của 200 bản án hình sự sơ thẩm về các tội xâm phạm TTQLHC trong giai đoạn 2005 – 2015 để đánh giá việc áp dụng hình phạt chính, hình phạt bổ sung, án treo, biện pháp tư pháp, miễn TNHS và miễn hình phạt.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này điểm lại toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về chế định TNHS và các tội xâm phạm TTQLHC. Luận án phân tích các luận điểm của các nhà nghiên cứu trong nước (Phạm Mạnh Hùng, Cao Thị Oanh, Trịnh Tiến Việt, Lê Văn Cảm, Trịnh Quốc Toản, Nguyễn Ngọc Hòa, Nguyễn Ngọc Chí,...) và các tác giả nước ngoài (Zlôbin G., Karpusin M., Liaxx, Kent Roach). Tác giả rút ra kết luận: mặc dù hệ thống lý luận chung về TNHS đã được xây dựng tương đối đầy đủ, nhưng việc nghiên cứu chuyên biệt về TNHS đối với nhóm tội xâm phạm TTQLHC vẫn còn khoảng trống lớn, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải giải quyết một cách có hệ thống cả về mặt lập pháp lẫn thực tiễn xét xử.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính trong luật hình sự Việt Nam

Chương 2 tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng:

  • Phân tích khái niệm, ý nghĩa và 6 đặc điểm cơ bản của TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC.
  • Xác định cơ sở của TNHS đối với nhóm tội phạm này theo các bình diện nội dung, hình thức và pháp lý; phân tích các điều kiện truy cứu TNHS (năng lực TNHS, độ tuổi, hành vi nguy hiểm, lỗi).
  • Phân tích các hình thức thực hiện TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC, bao gồm hình phạt (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, hình phạt bổ sung) và các biện pháp tư pháp, biện pháp miễn TNHS, miễn hình phạt.
  • Nghiên cứu cơ cấu hình phạt của nhóm tội này qua hai bảng so sánh lập pháp:
    • Bảng 2.1: Cơ cấu hình phạt đối với các tội xâm phạm TTQLHC trong cơ cấu hình phạt đối với các tội phạm được quy định trong BLHS năm 1985.
    • Bảng 2.2: Cơ cấu hình phạt đối với các tội xâm phạm TTQLHC trong cơ cấu hình phạt đối với các tội phạm được quy định trong BLHS năm 1999.
  • Khảo sát kinh nghiệm lập pháp của BLHS một số quốc gia trên thế giới về kỹ thuật quy định tội phạm và chế tài xử lý các hành vi xâm hại TTQLHC.

Chương 3: Pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng quy định về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính

Chương 3 trình bày lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam từ năm 1945 và tập trung phân tích thực tiễn xét xử giai đoạn 2005 – 2015 thông qua hệ thống bảng biểu và biểu đồ thống kê:

Số hiệu bảng / biểu đồ Tên bảng biểu / biểu đồ trong luận án Nội dung số liệu / Dữ kiện phân tích
Bảng 3.1 & Biểu đồ 3.1 Thống kê xét xử sơ thẩm hình sự về các tội xâm phạm TTQLHC (2005 – 2015) Tổng số vụ án và bị cáo bị đưa ra xét xử sơ thẩm trong 11 năm (ví dụ năm 2005: 896 vụ/1.744 bị cáo; năm 2009: 1.900 bị cáo; năm 2012: 1.404 bị cáo; năm 2013: 1.484 bị cáo).
Bảng 3.2 & Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ tổng số vụ và bị cáo phạm tội xâm phạm TTQLHC / Tổng số vụ và bị cáo nói chung Cơ cấu và tỷ trọng của nhóm tội xâm phạm TTQLHC trong toàn bộ các vụ án hình sự sơ thẩm tại Việt Nam.
Bảng 3.3 & Biểu đồ 3.3 Thống kê cơ cấu các tội danh cụ thể trong nhóm xâm phạm TTQLHC So sánh số lượng vụ án của tội Chống người thi hành công vụ với các tội danh khác trong Chương XX BLHS.
Biểu đồ 3.4 & 3.5 Số vụ và bị cáo nói chung so với số vụ và bị cáo về các tội xâm phạm TTQLHC Tương quan xu hướng biến động xét xử sơ thẩm hình sự chung và nhóm tội xâm phạm TTQLHC.
Bảng 3.4 Phân tích việc áp dụng hình phạt và án treo đối với các bị cáo (2005 – 2015) Cơ cấu các loại chế tài hình sự áp dụng đối với người phạm tội xâm phạm TTQLHC.
Bảng 3.5 – Bảng 3.8 Thống kê chi tiết từng loại hình phạt áp dụng (2005 – 2015) Bảng 3.5: Hình phạt Cảnh cáo; Bảng 3.6: Phạt tiền; Bảng 3.7: Cải tạo không giam giữ; Bảng 3.8: Tù có thời hạn và Án treo.
Bảng 3.9 Việc áp dụng các biện pháp tư pháp từ khảo sát 200 bản án sơ thẩm Tỷ lệ và thực trạng tuyên các biện pháp tư pháp đối với các bị cáo phạm tội xâm phạm TTQLHC.
Bảng 3.10 Áp dụng miễn TNHS và miễn hình phạt (2005 – 2015) Thực tiễn đình chỉ vụ án, miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo theo quy định chung.

Từ phân tích số liệu thực tiễn và 200 bản án điển hình, chương này chỉ ra các tồn tại, hạn chế: việc định tội danh chưa chính xác trong một số vụ án; áp dụng hình phạt chưa tương xứng (quá nặng hoặc quá nhẹ); vướng mắc khi áp dụng án treo và các biện pháp tư pháp; việc hướng dẫn các tình tiết định tính còn thiếu thống nhất. Tác giả phân tích các nguyên nhân từ quy định pháp luật, năng lực cán bộ tiến hành tố tụng và điều kiện bảo đảm thi hành.

Chương 4: Yêu cầu, nội dung và các giải pháp tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính

Chương 4 xây dựng hệ thống kiến nghị và giải pháp:

  • Yêu cầu hoàn thiện: Quán triệt chính sách hình sự của Nhà nước, cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tính thống nhất, công bằng và nguyên tắc phân hóa TNHS.
  • Nội dung hoàn thiện BLHS:
    • Sửa đổi, bổ sung các tình tiết định tội, định khung hình phạt đối với tội Chống người thi hành công vụ nhằm bảo đảm tương quan hợp lý với tội Cố ý gây thương tích.
    • Tăng cường chế tài đối với tội Chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy con dấu, tài liệu của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội.
    • Phân định rõ ràng ranh giới cấu thành tội phạm giữa hành vi làm giả con dấu, tài liệu để lừa đảo (Điều 341) và tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174).
    • Tách bạch các hành vi có tính chất và mức độ nguy hiểm khác nhau đang quy định chung trong cùng một điều luật tại tội Vi phạm quy định về quản lý nhà ở (Điều 343).
    • Cụ thể hóa tiêu chí định lượng thay thế cho các dấu hiệu định tính dễ gây tùy nghi như "gây hậu quả nghiêm trọng".
  • Giải pháp bảo đảm thi hành:
    • Ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất của TANDTC và liên ngành tư pháp.
    • Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và phẩm chất của đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên.
    • Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra giám sát hoạt động xét xử và bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt lý luận:

    • Xây dựng hệ thống khái niệm hoàn chỉnh về các tội xâm phạm TTQLHC và TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC trong khoa học luật hình sự Việt Nam.
    • Luận giải toàn diện cơ sở của TNHS trên cả ba phương diện (nội dung/vật chất, hình thức, quy phạm pháp lý) và các hình thức thực hiện TNHS (hình phạt, biện pháp tư pháp, miễn TNHS, miễn hình phạt) áp dụng riêng cho nhóm tội phạm này.
    • Làm rõ các đặc trưng pháp lý của TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC, khẳng định chủ thể chịu TNHS theo pháp luật hiện hành là cá nhân người phạm tội, không bao gồm pháp nhân thương mại.
  2. Về mặt thực tiễn và lập pháp:

    • Cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực tiễn xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm TTQLHC tại Việt Nam trong suốt 11 năm (2005 – 2015) thông qua hệ thống 10 bảng thống kê và 5 biểu đồ dữ liệu của TANDTC, kết hợp kết quả khảo sát 200 bản án sơ thẩm điển hình.
    • Chỉ rõ những sai sót thực tiễn trong việc định tội danh, áp dụng mức hình phạt, cho hưởng án treo và áp dụng biện pháp tư pháp đối với các bị cáo phạm tội xâm phạm TTQLHC.
    • Đề xuất hệ thống kiến nghị sửa đổi, bổ sung cụ thể các quy định trong Phần chung và Phần các tội phạm của BLHS nhằm hoàn thiện kỹ thuật lập pháp, khắc phục mâu thuẫn giữa các khung hình phạt và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát số liệu xét xử sơ thẩm trong mốc thời gian 11 năm (2005 – 2015) và khảo sát mẫu 200 bản án sơ thẩm; đối tượng nghiên cứu về chủ thể chỉ giới hạn ở cá nhân do BLHS năm 2015 không quy định TNHS của pháp nhân thương mại đối với nhóm tội phạm xâm phạm TTQLHC.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi thực tiễn áp dụng các điều luật mới của BLHS năm 2015 sau khi có hiệu lực thi hành; nghiên cứu mở rộng việc áp dụng TNHS ở cấp xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế phối hợp giữa các biện pháp xử phạt hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự trong bảo đảm trật tự quản lý hành chính nhà nước.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp: Là tài liệu tham khảo phục vụ quá trình tổng kết thi hành, rà soát sửa đổi, bổ sung các quy định của BLHS về các tội xâm phạm TTQLHC.
  • Đối với cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra): Cung cấp các phân tích thực tiễn và tiêu chí định tội danh chính xác, hỗ trợ Thẩm phán và Kiểm sát viên trong việc quyết định hình phạt, áp dụng án treo và biện pháp tư pháp đúng quy định.
  • Đối với cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu chuyên sâu về học phần Luật hình sự Việt Nam (Phần chung và Phần các tội phạm) cũng như Tội phạm học cho học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính như thế nào?
Luận án xác định: TNHS đối với các tội xâm phạm TTQLHC là nghĩa vụ pháp lý mà người đã thực hiện hành vi bị coi là tội phạm xâm phạm TTQLHC phải chịu, được thể hiện bằng biện pháp cưỡng chế của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng theo quy định của PLHS.

2. Pháp nhân thương mại có phải là chủ thể chịu trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính theo BLHS năm 2015 không?
Không. Dù BLHS năm 2015 đã bổ sung quy định TNHS của pháp nhân thương mại tại Điều 76, nhưng đối với Chương các tội xâm phạm TTQLHC, pháp nhân thương mại không được quy định là chủ thể của tội phạm. TNHS đối với nhóm tội này mang tính chất cá nhân của thể nhân.

3. Số liệu thống kê xét xử sơ thẩm của TANDTC trong phần mở đầu luận án ghi nhận bao nhiêu bị cáo phạm tội này trong các năm 2005, 2009, 2012 và 2013?
Theo số liệu TANDTC được luận án trích dẫn: năm 2005 có 896 vụ với 1.744 bị cáo; năm 2009 có 1.900 bị cáo; năm 2012 có 1.404 bị cáo; năm 2013 có 1.484 bị cáo bị xét xử sơ thẩm về các tội xâm phạm TTQLHC.

4. Luận án sử dụng cỡ mẫu hồ sơ bản án cụ thể nào để phân tích thực tiễn áp dụng hình phạt và biện pháp tư pháp?
Luận án tiến hành khảo sát và phân tích chuyên sâu 200 bản án hình sự sơ thẩm về các tội xâm phạm TTQLHC trong giai đoạn 11 năm (2005 – 2015) trên toàn quốc.

5. Luận án chỉ ra bất cập nào trong tương quan hình phạt giữa tội Chống người thi hành công vụ và tội Cố ý gây thương tích?
Luận án chỉ ra rằng người phạm tội có mục đích chống lại người thi hành công vụ bị truy cứu TNHS theo khoản 1 Điều 257 BLHS năm 1999 lại có khung hình phạt ngang bằng với người phạm tội có mục đích chống lại người thi hành công vụ nhưng gây thương tích bị truy cứu theo khoản 1 Điều 104 BLHS (tội Cố ý gây thương tích), dẫn đến sự thiếu công bằng trong chính sách xử lý hình sự.


Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Kim Chi là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về chế định trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa phân tích lý luận pháp lý hình sự và xử lý dữ liệu thống kê xét xử thực tiễn 11 năm (2005 – 2015) cùng 200 bản án điển hình, công trình đã làm sáng tỏ các đặc trưng, cơ sở và hình thức thực hiện TNHS của nhóm tội phạm này. Các kiến nghị hoàn thiện điều luật trong BLHS và giải pháp tổ chức thi hành được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực cho công tác lập pháp và hoạt động tư pháp hình sự.