Chương 1. KHÁI NIỆM TRÁCH NHIỆM BOI THUONG THIET HAI NGOÀI HOP DONG TRONG HOẠT ĐỘNG TIEM CHUNG 1. Khai niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Thời ky sơ khai, trách nhiệm bồi thường chưa được đặt ra, theo đó, người ta thường áp dụng nguyên tắc "nợ gi trả nấy" khi có hành vi gây thiệt hại. Luật XII bảng được ban hành vào nam 450 trước Công nguyên có quy định: kẻ nào làm gãy tay người khác thì kẻ đó phải chịu lại tương tư như vậy.
Khi áp dụng nguyên tắc trả thù ngang bằng, lợi ích của người bị thiệt hại không được bảo đảm, hơn nữa lại có một thiệt hại khác phát sinh. Đây chính là lý do để sau đó người ta xem xét van đề bồi thường thiệt hai. Xét về nguồn gốc lịch sử, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định có lịch sử sớm nhất của pháp luật dân sự. Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng là chế định gây nhiều tranh cãi, có nhiều quan điểm của các nhà nghiên cứu luật pháp cũng như cán bộ làm công tác thực tiễn.
Trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng luôn được hoàn thiện bởi các chuyên gia pháp lý. Ở nước ta, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã được quy định trong Quốc triểu Hình luật và Hoàng Việt luật lệ. Pháp luật mỗi nước có thể có những quy định khác nhau liên quan đến việc xác định mức độ bồi thường, tuy nhiên một nguyên tắc cơ bản luôn tôn tại - đó là: "Người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại". Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long đều chưa có sự phân biệt rõ nét về trách nhiệm bồi thường dân sự.
Sự phân biệt rach roi gitra trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự chỉ ra đời trên cơ sở ba bộ luật đầu tiên (Bộ luật Nam Kỳ ban hành ngày 10/3/1883; Bộ Dân luật Bắc Kỳ ban hành ngày 01/4/1931; Bộ Dân luật Trung Kỳ ban hành ngày 31/10/1936) và các nguyên lý chung về trách nhiệm bồi thường dân sự lần đầu được ghi nhận một cách cụ thê tại Điều 712 đến Điều 716 (Bộ Dân luật Bắc Kỳ); Điều 761 đến 6 Điều 767 (Bộ Dân luật Trung Kỳ) và cho đến năm 1972 chính quyền Sài Gòn đã ban hành Bộ Dân luật Sài Gòn từ Điều 729 đến Điều 739 đề cập về trách nhiệm bồi thường dân sự. Cách mạng tháng Tám thành công, đánh dấu một bước ngoặt mới: Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, ngay lúc này chúng ta chưa thể ban hành được các văn bản quy phạm pháp luật ngay. Dé điều chỉnh các quan hệ xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lần lượt ký Sắc lệnh số 90/SL ngày 10/10/1945 và Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 thừa nhận luật lệ cũ trên tinh thần không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa của Nhà nước ta. Những quy định trong Sắc lệnh số 97/SL đã đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của luật dân sự.
Lần đầu tiên những nguyên tắc thực sự dân chủ, tiễn bộ mang tính nhân dân sâu sắc được pháp điển hóa. Như nguyên tắc: "Những quyền dân sự déu được luật bảo vệ khi người ta hành xử nó đúng với quyên lợi của nhân dân" hay "người ta chỉ được hưởng dụng và sử dụng các vật thuộc quyên sở hữu của mình một cách hợp pháp và không gây thiệt hại đến quyển lợi của nhân dan". Việc giải quyết các quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm của ngành tòa án. Qua thực tiễn xét xử, vận dụng và kế thừa những quy định pháp luật đã có, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư số 173/UBTP ngày 23/3/1972 hướng dẫn công tác xét xử, trong đó nói rõ điều kiện phát sinh, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nguyên tắc, cách xác định thiệt hại.
Thông tư số 03/UBTP ngày 05/4/1983 bổ sung giải quyết bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nan giao thông. đều là văn bản dưới luật, lại ban hành trong điều kiện kinh tế tập trung bao cấp, tuy dé cập nhiều van đề xong chỉ mang tính định hướng, chưa cụ thê. Bên cạnh đó, xu hướng phát triển kinh tế đất nước theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đòi hỏi phải có Bộ luật Dân sự điều chỉnh một lĩnh vực quan hệ xã hội rộng lớn. Bộ luật Dân sự ra đời pháp điển hóa một bước quan trọng tạo ra một văn bản pháp luật thống nhất nhằm khắc phục tình trạng tản mạn, trùng lặp, mâu thuẫn của pháp luật dân sự trước đó.
7 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những trách nhiệm dân sự, được áp dung với người có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại cho người khác. Chế định "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng" được hệ thống ở Chương XX, với các quy định từ Điều 584 đến Điều 608 làm cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giải quyết bôi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của các cơ quan nhà nước có thâm quyền. Nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, đồng thời giải quyết khách quan, nhanh chóng, công băng theo quy định của pháp luật. Theo Khoản 5 Điều 275 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015 thì một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự đó là: “Gáy thiệt hại do hành vì trái pháp luật”.
Theo quy định tại Điều 584 Bộ luật Dân sự thì sự kiện "gay thiệt hại do hành vi xâm phạm" là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Nhà làm luật trong trường hop này đã không đồng nghĩa "trdch nhiệm bôi thường thiệt hại ngoài hợp đồng" với "nghĩa vụ bồi thường do hành vỉ trái pháp luật" - Điều 584 Bộ luật Dân sự đã xác nhận sự đồng nghĩa này. Pháp luật nhà nước ta sử dụng nhiều phương thức khác nhau để bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức khi bị xâm phạm bởi những hành vi trái pháp luật. Khi một người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đối với người khác làm phát sinh các quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại.
Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: 1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh du, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyên, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bôi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hai trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bat khả kháng hoặc hoàn toàn do lôi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. 8 Nhu vay, bồi thường thiệt hai là quan hệ phát sinh từ hậu quả của hành vi trai pháp luật hoặc pháp luật có quy định khác xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyên, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm đến danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc của các chủ thể khác.
Bồi thường thiệt hại là trách nhiệm dân sự nhăm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải bù đắp những ton thất về vật chất, về tinh than cho bên bị thiệt hại. Điều kiện dé phát sinh trách nhiệm này là phải có thiệt hại, có hành vi trái pháp luật hoặc có hành vi gây thiệt hại thì phải bồi thường; có quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra ,có lỗi của người gây thiệt hại. Vậy trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì? Qua những phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý, là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước theo đó người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hai do hành vi cua mình gây ra khi hành vi đó được thực hiện với lỗi cô ý, vô ý hoặc không có lỗi nhưng pháp luật quy định phải bồi thường xâm phạm tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhán phẩm, y tín, và các quyên nhân thân khác của cá nhân, tài sản, danh dự, uy tín của pháp nhân hoặc chủ thể khác.2 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tính mạng trong hoạt động tiêm chủng mở rộng Khoản 6 Điều 30 Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm quy định "Khi thực hiện tiêm chủng mở rộng, nếu xảy ra tai biến ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe hoặc gây thiệt hại đến tính mạng của người được tiêm chủng, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại. Trường hợp xác định được lỗi thuộc về tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, bảo quản vắc xin, sinh phẩmy tế hoặc người làm công tác tiêm chủng thì tổ chức, cá nhân này phải bồi hoàn cho Nhà nước theo quy định của pháp luật".
9 Vậy trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động tiêm chủng là gì? Qua những phân tích trên đây, qua phân tích tại phần 1.1, có thể đưa ra khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động tiêm chủng như sau: Trách nhiệm bồi thường thiệt hai trong hoạt động tiêm chung mở rộng là mot loại trách nhiệm pháp ly cua Nhà nước theo đó khi thực hiện tiêm chung nếu xảy ra tai biến ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe hoặc gây thiệt hại đến tính mạng của người được tiêm chủng, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại. Truong hợp xác định được lỗi cố y, vô ý thuộc về t6 chức, cd nhân sản xuất, kinh doanh, bảo quản vac xin, sinh phẩm y té hoặc người làm công tác tiêm chủng thì tổ chức, cá nhân này phải bồi hoàn cho Nhà nước. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động tiêm chủng mở rộng phát sinh từ hậu quả của hành vi trái pháp luật hoặc pháp luật có quy định khác (Điều 30 Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm) xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, của các chủ thể. Tuy nhiên, hoạt động tiêm chủng mở rộng của cơ sở y tế hoàn toàn tuân thủ đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn gây ra thiệt hại về sức khỏe, tính mạng cho người được tiêm chung thì hành vi tiêm chủng không phải là hành vi trái pháp luật và Nhà nước có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại.