Khảo Sát Tình Hình Kháng Thuốc Của Vi Khuẩn Gây Bệnh Tại Bệnh Viện C Thái Nguyên

Luận văn khảo sát tình hình kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh tại Bệnh viện C Thái Nguyên, phân tích xu hướng và đề xuất giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Công nghệ sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

65
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC VÀ TỪ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

1.2. Mục tiêu của đề tài

1.2.1. Mục tiêu tổng quát

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1.3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Tình hình vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh

2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

2.3. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

2.4. Cơ chế kháng kháng sinh của vi khuẩn

2.4.1. Định nghĩa của kháng sinh và cơ chế tác động của kháng sinh

2.4.2. Sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn

3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.2. Nội dung nghiên cứu

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Phương pháp phân lập, xác định vi khuẩn và lưu giữ chủng

3.3.2. Phương pháp: Kháng sinh đồ

3.3.3. Dụng cụ, hóa chất và thiết bị sử dụng

3.3.4. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả nghiên cứu tỷ lệ các loại vi khuẩn gây bệnh bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện C Thái Nguyên

4.2. Khảo sát tình hình kháng thuốc của một số loại vi khuẩn phân lập tại Bệnh viện C Thái Nguyên

4.2.1. Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Escherichia coli

4.2.2. Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Staphylococcus aureus

4.2.3. Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Streptococcus pneumoniae

4.2.4. Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa

4.2.5. Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Klebsiella pneumonae

4.2.6. Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Acinetobacter baumannii

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Tóm tắt

I. Tổng quan về tình hình kháng thuốc

Kháng thuốc là vấn đề toàn cầu, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Vi khuẩn gây bệnh kháng kháng sinh đang gia tăng, gây khó khăn trong điều trị bệnh. Bệnh viện C Thái Nguyên là một trong những cơ sở y tế lớn ở khu vực Đông Bắc Việt Nam, nơi tập trung nhiều bệnh nhân nặng. Nhiễm trùng bệnh việnkháng thuốc là mối đe dọa lớn, làm tăng chi phí điều trị và tỷ lệ tử vong. Khảo sát kháng thuốc tại bệnh viện này nhằm đánh giá thực trạng và cung cấp thông tin về tình hình kháng thuốc của các vi khuẩn gây bệnh.

1.1. Tình hình kháng thuốc trên thế giới

Theo WHO, kháng thuốc đang là mối lo ngại toàn cầu. Nghiên cứu của Pitt T. (2003) cho thấy 50% chủng P. aeruginosa kháng Gentamycin. Báo cáo của WHO (2008) chỉ ra tỷ lệ kháng Ceftazidime lên đến 70% ở châu Âu. Kháng sinh nhóm Carbapenem, vốn là lựa chọn cuối cùng, cũng đang bị kháng. CDC (2011) ghi nhận sự gia tăng kháng CarbapenemsKlebsiellaE. coli.

1.2. Tình hình kháng thuốc tại Việt Nam

Ở Việt Nam, kháng thuốc đang ở mức báo động. Nghiên cứu của Song J. (2004) cho thấy Streptococcus pneumoniae kháng Penicillin lên đến 71,4%. Bộ Y tế (2004) báo cáo tỷ lệ kháng Ceftriaxone là 70%. Nghiên cứu kháng thuốc tại các bệnh viện lớn như Bệnh viện Việt ĐứcBệnh viện 108 cho thấy P. aeruginosa kháng Gentamycin lên đến 54%.

II. Cơ chế kháng thuốc của vi khuẩn

Kháng thuốc của vi khuẩn là kết quả của đột biến gen hoặc nhận gen kháng thuốc. Kháng sinh tác động bằng cách ức chế tổng hợp vách tế bào, gây rối loạn chức năng màng bào tương, hoặc ức chế tổng hợp protein. Vi khuẩn có thể kháng thuốc tự nhiên hoặc kháng thuốc thu được thông qua đột biến hoặc nhận gen kháng thuốc từ plasmid hoặc transposon.

2.1. Đột biến gen kháng thuốc

Đột biến gen là nguyên nhân chính dẫn đến kháng thuốc. Đột biến một bước như Streptomycin hoặc đột biến nhiều bước như Penicillin đều làm tăng khả năng kháng thuốc. Tần suất đột biến thường rất thấp, từ 10^-6 đến 10^-11.

2.2. Nhận gen kháng thuốc

Vi khuẩn có thể nhận gen kháng thuốc thông qua plasmid hoặc transposon. Plasmid R mang gen kháng thuốc và có thể truyền ngang giữa các vi khuẩn. Transposon như Tn3 mang gen kháng Ampicillin, Tn5 mang gen kháng Kanamycin.

III. Phương pháp nghiên cứu kháng thuốc

Khảo sát kháng thuốc tại Bệnh viện C Thái Nguyên được thực hiện bằng cách phân lập và xác định vi khuẩn gây bệnh từ các mẫu bệnh phẩm. Kháng sinh đồ được sử dụng để đánh giá mức độ kháng thuốc của các chủng vi khuẩn. Phương pháp này giúp xác định hiệu quả của các loại kháng sinh khác nhau.

3.1. Phân lập và xác định vi khuẩn

Các mẫu bệnh phẩm được thu thập từ bệnh nhân tại Bệnh viện C Thái Nguyên. Vi khuẩn được phân lập và xác định bằng các phương pháp vi sinh truyền thống và kỹ thuật PCR.

3.2. Kháng sinh đồ

Kháng sinh đồ được thực hiện để đánh giá mức độ nhạy cảm của vi khuẩn với các loại kháng sinh. Kết quả giúp xác định loại kháng sinh hiệu quả nhất trong điều trị bệnh.

IV. Kết quả và thảo luận

Kết quả khảo sát kháng thuốc tại Bệnh viện C Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ kháng thuốc cao ở các chủng E. coli, S. aureus, và P. aeruginosa. Kháng sinh nhóm CephalosporinQuinolon bị kháng nhiều nhất. Kháng sinh đồ giúp xác định các loại kháng sinh còn hiệu quả, góp phần hạn chế kháng thuốc.

4.1. Tỷ lệ kháng thuốc của E. coli

E. coli kháng Ceftriaxone lên đến 70%. Kháng sinh nhóm Carbapenem vẫn còn hiệu quả với tỷ lệ kháng thấp.

4.2. Tỷ lệ kháng thuốc của S. aureus

S. aureus kháng Penicillin lên đến 92%. Vancomycin vẫn là lựa chọn hiệu quả trong điều trị.

13/02/2025
Luận văn khảo sát tình hình kháng thuốc của một số vi khuẩn gây bệnh tại bệnh viện c thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Thực trạng kháng kháng sinh đã mang tính toàn cầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển với các bệnh truyền nhiễm còn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu bệnh tật như: Nhiễm khuẩn đường tiêu hoá, đường hô hấp, các bệnh lây truyền qua đường tình dục và nhiễm khuẩn bệnh viện. Đây đang là gánh nặng thực sự vì sự gia tăng chi phí do phải bắt buộc thay thế các kháng sinh cũ bằng các kháng sinh mới đắt tiền. Việc kiểm soát các loại bệnh này đã và đang chịu sự tác động bất lợi của sự phát triển và lan truyền tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn [36]. Xu hướng kháng lại các thuốc kháng sinh thường dùng, làm cho thuốc đó không còn tác dụng trên lâm sàng, không còn tác dụng tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh.

Khi đó thuốc kháng sinh đang dùng điều trị cho người bệnh không tiêu diệt được vi khuẩn gây bệnh. Ngay cả khi chúng ta sử dụng kháng sinh với nồng độ cao, thời gian kéo dài. Việc kháng thuốc kháng sinh là một mối hiểm họa to lớn bởi lẽ vi khuẩn gây bệnh sẽ thoải mái lộng hành, phát triển mà không còn sợ hãi trước các vũ khí của con người [36]. Tuy nhiên, cùng với sự ra đời của thuốc kháng sinh thì việc sử dụng tự phát và lạm dụng thuốc quá mức dẫn đến một thực trạng là vi khuẩn kháng thuốc ngày càng gia tăng.

Nhất là ở những nơi sử dụng thuốc kháng sinh nhiều và tập trung nhiều bệnh nhân như bệnh viện [15]. Thực sự, các vi sinh vật kháng kháng sinh đang là mối đe dọa chung của toàn cầu. Bệnh viện C Thái Nguyên là một trong số bệnh viện trong khu vực Phía Đông Bắc Việt Nam, tập trung nhiều bệnh nhân nặng và là tuyến cuối của các bệnh viện cơ sở trong khu vực nên là nơi nghi ngờ sẽ có khả năng kháng thuốc cao. Nhiễm trùng bệnh viện không chỉ làm tăng thêm số ngày nằm viện, chi phí điều trị của bệnh nhân mà còn tăng nguy cơ đa kháng thuốc, nhất là kháng sinh tăng tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân.

2 - Vì vậy, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Khảo sát tình hình kháng thuốc của một số vi khuẩn gây bệnh tạo Bệnh viện C Thái Nguyên”. Nhằm mục đích đánh giá thực trạng vi khuẩn kháng thuốc, cung cấp thông tin về tình hình gây bệnh và tình hình kháng thuốc kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh ở bệnh viện. Mục tiêu của đề tài 1.Mục tiêu tổng quát Khảo sát tình hình kháng thuốc của một số vi khuẩn gây bệnh tại Bệnh việc C Thái Nguyên. Mục tiêu cụ thể - Khảo sát tỷ lệ các loại vi khuẩn gây bệnh trên các bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện C Thái Nguyên.

- Khảo sát tình hình kháng thuốc của một số vi khuẩn chủ yếu. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1. Ý nghĩa khoa học của đề tài - Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp nguồn tài liệu khoa học phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy. - Đánh giá thực trạng vi khuẩn kháng thuốc ở Bệnh viện C Thái Nguyên và cung cấp thông tin về tình hình gây bệnh và tình hình kháng thuốc kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh ở bệnh viện.

- Các cuộc khảo sát là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu thuộc cùng lĩnh vực liên quan. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Xây dựng kháng sinh đồ cho từng bệnh nhân cụ thể giúp góp phần xây dựng chế độ hóa trị liệu liên quan cho bệnh nhân, góp phần hạn chế sự lây lan của các chủng vi khuẩn kháng thuốc ngoài cộng đồng. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tình hình vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh 2.

Tình hình nghiên cứu trên thế giới Nhiễm trùng bệnh viện đang là mối lo ngại trên thế giới. Hàng năm các thống kê về các vi khuẩn gây nhiễm trùng bệnh viện và khả năng kháng thuốc ở trên thế giới được cập nhập và quan tâm. Theo nghiên cứu của Pitt T. và cộng sự năm 2003 ở Anh có tới 50% chủng P.

aeruginosa kháng Gentamycine, 39% kháng Ceftazidime, 32% kháng Piperacine và 30% kháng Ciprofloxaxin (2003) [30]. Theo nghiên cứu của Pereira L. năm 2004 đề kháng Ciprofloracine thậm chí được ghi nhận ở trẻ em và người trưởng thành trước đó chưa từng sử dụng kháng sinh Quinolon. Theo Báo cáo của Pereira L.

năm 2004 tại Barbodas, Jamaica và Trinidad, họ Enterobacteriaceae kháng Cephalosporin hàng 3 [28]. Theo báo cáo của WHO năm 2008 sự đề kháng của Acitrobacter với các kháng sinh khác lần lượt là Aminoglucoside khoảng 20%, Ciprofloracine (30%), Ceftazidime (70%), Piperacine/Tazobactam (50%), Cefotaxime (89%) ở châu Âu, tỷ lệ kháng cao nhất được báo cáo ở vùng Địa Trung Hải bao gồm Hi Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý và Nhật Bản [33]. Theo báo cáo của Adjei M. Các kháng sinh nhóm Carbapenem là kháng sinh được lựa chọn cuối cùng trong điều trị nhiễm khuẩn nhưng theo báo cáo của WHO vào năm 2010 ở Anh đã có sự xuất hiện chủng kháng kháng sinh Carbapenem xảy ra từ năm 2000 với vi khuẩn Aciterobacter.

Giữa năm 2004 và năm 2008 tỷ lệ đề kháng với Meropenem đã tăng từ 13 lên 29% [33]. Theo báo cáo của CDC năm 2011 Klebsiella và E. coli đang dần kháng với Carbapenems [34]. Điều này càng làm tăng mối lo ngại về tình hình kháng kháng sinh trên thế giới.

Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về kháng thuốc. Theo báo cáo vào năm 2000-2001 của Song J. và cộng sự năm 2004 [32], tỷ lệ kháng Penicillin 4 chiếm 71,4% và Erythromycine 92,1% của Streptococcus pneumoniae (nguyên nhân thường gặp và gây nhiễm khuẩn hô hấp tại Việt Nam) được ghi nhận là cao nhất trong số 11 nước trong mạng lưới giám sát các căn nguyên kháng thuốc Châu Á (ANSORD) [11]. Theo báo cáo khác phân tích về thực trạng sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh ở Việt Nam năm 2015 chỉ ra rằng tỷ lệ đề kháng kháng sinh được ghi nhận là tăng đột biến theo thời gian, vào năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh mới chỉ có 8% các chủng S.

pneumoniae kháng với Penicillin, đến năm 1990 - 2000, tỷ lệ này tăng 56% xu hướng tương tự tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam [11]. Một nghiên cứu khác vào năm 2000 - 2001, chỉ ra rằng có tới 25% số vi khuẩn phân lập được tại bệnh viện Thành phố Hồ Chí Minh đề kháng với kháng sinh Cephalosporin hàng 3. Theo tổng kết của Bộ Y tế năm 2004, phần lớn những kháng sinh sử dụng thường xuyên hiện nay đã bị kháng như Ceftriaxone 70%, Ceftazidime 64%, Cipfloxacine 55% [17]. Cũng theo kết quả nghiên cứu thực trạng kháng kháng sinh tại 4 bệnh viện lớn ở Hà Nội (Việt Đức, Saint Paul, Bệnh viện 108, Bệnh viện Quân Y 103 của Bùi Khắc Hậu và cộng sự từ năm 2005-2008) [9] cho thấy P.

aeruginosa đề kháng có với kháng sinh Tetracyne (92,1%), Ceftriaxone (58,5%) và Gentamycine (54%). Trong báo cáo sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh tại 15 bệnh viện Việt Nam năm 2008 - 2009 thì tình trạng kháng kháng sinh ở Việt Nam ở mức độ cao [11]. Theo nghiên cứu sự 13 kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh tại Bệnh viện Thống Nhất của Cao Minh Nga năm 2008 [16] P. aeruginosa kháng cao với các kháng sinh thường dùng nhóm Aminoglycid trong đó, Gentamicin (chiếm 62,9%), Amikacin (chiếm 49,0%), Imipenem (chiếm 36,1%).

Các nghiên cứu khác chỉ ra rằng có tới 75% các chủng Pneumococci kháng với 3 loại kháng sinh trở lên [26]. Theo kết quả nghiên cứu công bố năm 2009 của Le T. [27] cho thấy 42% chủng Enterobacteriaceae kháng với Ceftazidime, 60% kháng với Gentamycine và 70% kháng với Nalidixic axit, tỷ lệ kháng cao này được ghi nhận ở người khỏe mạnh trong cộng đồng. Cũng theo báo cáo năm 2011 của Lý Ngọc Kính và cộng sự [19] về tình hình kháng thuốc tại một số đơn vị điều trị 5 tích cực thì tỷ lệ vi khuẩn kháng Gentamycine, Tobramycine và kháng cao trên 50% với nhóm Quinolon, nhạy cảm với Vancomycine, Colistin, Carbapenem.

Theo một báo cáo của Trần Thị Lan Phương và cộng sự năm 2008 S. pneumoniae và Acinetobacter là 2 vi khuẩn thường gây nhiễm trùng bệnh viện và kháng với hầu hết kháng sinh thông thường [19]. Cơ chế kháng kháng sinh của vi khuẩn 2. Định nghĩa của kháng sinh và cơ chế tác động của kháng sinh Định nghĩa kháng sinh đầu tiên ra đời: Theo Bộ Y tế năm 2015, Kháng sinh (antibiotic) là những chất kháng khuẩn được tạo ra từ các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn…) có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác [3].

Định nghĩa khác về kháng sinh là: “Kháng sinh (antibiotic) là những hợp chất ngay ở nồng độ thấp đã có khả năng ức chế, hoặc tiêu diệt vi khuẩn một cách đặc hiệu, bằng cách gây rối loạn phản ứng sinh học ở tầm phân tử (nồng độ thấp: nồng độ điều trị nhỏ hơn nhiều lần so với liều độc với cơ thể; đặc hiệu: mỗi kháng sinh chỉ có tác dụng trên một loại vi khuẩn hay một nhóm vi khuẩn)” [15]. Cơ chế tác động của kháng sinh Kháng sinh có tác động vào nhiều quá trình như ngăn cản quá trình vận chuyển thành phần tạo màng, ức chế các enzyme tổng hợp các yếu tố của màng vi khuẩn. Chúng làm rối loạn quá trình nhân lên của vi khuẩn làm chúng nhân lên nhưng không có vách hoặc vách không hoàn chỉnh dễ bị tiêu diệt bởi điều kiện môi trường xung quanh. Ví dụ: Kháng sinh nhóm β-lactam, Vancomycin….

 Ức chế tổng hợp vách tế bào vi khuẩn Các kháng sinh nhóm β-lactam, Fosfomycin và Vancomycin ngăn cản sinh tổng hợp lớp peptidoglycan nên không tạo được khung murein - tức là vách không được hình thành. Tế bào con sinh ra không có vách, vừa không sinh sản được vừa dễ bị tiêu diệt hoặc bị li giải, đặc biệt ở vi khuẩn Gram (+). Như vậy, những kháng sinh này có tác dụng diệt khuẩn nhưng chỉ với những tế bào đang phát triển (degenerative bactericide) [24].  Gây rối loạn chức năng màng bào tương 6 Chức năng đặc biệt quan trọng của màng bào tương là thẩm thấu chọn lọc, khi bị rối loạn các thành phần (ion) bên trong tế bào bị thoát ra ngoài và nước từ bên ngoài ồ ạt vào trong, dẫn tới chết, ví dụ Polymyxin B, Colistin.

Với cơ chế tác động này, Polymyxin có tác dụng diệt khuẩn tuyệt đối (absolute bactericide). Tức là giết cả tế bào đang nhân lên và cả tế bào ở trạng thái nghỉ - không nhân lên [24].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Khảo sát tình hình kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh tại Bệnh viện C Thái Nguyên là một nghiên cứu quan trọng nhằm đánh giá mức độ kháng thuốc của các vi khuẩn gây bệnh tại bệnh viện này. Tài liệu cung cấp cái nhìn chi tiết về các chủng vi khuẩn phổ biến, tỷ lệ kháng thuốc và các yếu tố liên quan, giúp các nhà quản lý y tế và bác sĩ có cơ sở để điều chỉnh phác đồ điều trị, giảm thiểu nguy cơ kháng thuốc. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực vi sinh lâm sàng và quản lý bệnh viện.

Để hiểu sâu hơn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo Luận văn khảo sát tình hình kháng thuốc của một số vi khuẩn gây nhiễm trùng bệnh viện tại bệnh viện trung ương thái nguyên, nghiên cứu này mở rộng phạm vi khảo sát và cung cấp thêm dữ liệu về các chủng vi khuẩn kháng thuốc. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm kháng sinh và gen liên quan ở các chủng salmonella đa kháng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cơ chế kháng thuốc ở cấp độ phân tử. Cuối cùng, Khóa luận tốt nghiệp ngành dược khảo sát kiến thức thái độ thực hành trong điều trị của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện đa khoa trung ương cần thơ mang đến góc nhìn về thực hành điều trị, một yếu tố quan trọng trong việc kiểm soát kháng thuốc.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn khám phá thêm những khía cạnh liên quan, từ đó nâng cao hiểu biết về vấn đề kháng thuốc và các giải pháp y tế hiệu quả.