Khóa luận tốt nghiệp luật học trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra theo quy định của pháp luật dân sự việt nam

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp luật học trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra theo quy định, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Luật Dân sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2025

72
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ là một chế định pháp luật dân sự quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ thể khi bị thiệt hại từ hoạt động của những nguồn có khả năng gây nguy hiểm cao. Đây là một loại trách nhiệm dân sự không phụ thuộc vào lỗi (trách nhiệm tuyệt đối), có nghĩa là người chịu trách nhiệm phải bồi thường ngay cả khi không có lỗi. Đặc điểm nổi bật của loại trách nhiệm này là không yêu cầu chứng minh lỗi của bên gây thiệt hại, mà chỉ cần chứng minh sự tồn tại của nguồn nguy hiểm cao độ, thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả giữa chúng. Điều này phản ánh nguyên tắc "ai sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ thì phải chịu rủi ro" trong pháp luật dân sự hiện đại.

1.1. Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ

Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm những vật, chất hoặc hoạt động có tính chất tự thân dễ gây thiệt hại cho con người và môi trường. Theo pháp luật Việt Nam, các chất độc hại, chất phóng xạ, vật liệu nổ, phương tiện cơ giới được xem là nguồn nguy hiểm cao độ. Đặc điểm của những nguồn này là chúng không thể kiểm soát hoàn toàn, dù người sử dụng có thận trọng như thế nào, vẫn tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại.

1.2. Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trách nhiệm tuyệt đối: Không cần chứng minh lỗi. Phạm vi rộng: Bao gồm thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản. Có thể loại trừ: Chỉ trong trường hợp thiệt hại do lỗi hoàn toàn của nạn nhân hoặc bất khả kháng. Loại trách nhiệm này đặc biệt quan trọng trong các ngành công nghiệp nặng, giao thông vận tải.

II. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ

Để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, pháp luật dân sự Việt Nam quy định ba căn cứ cơ bản và cần thiết. Thứ nhất, phải có thiệt hại thực tế xảy ra, bao gồm thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người bị thiệt hại. Thiệt hại này phải được chứng minh cụ thể và rõ ràng. Thứ hai, phải có hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật của nguồn nguy hiểm cao độ, tức là sử dụng hoặc quản lý nguồn nguy hiểm cao độ không đúng theo quy định của pháp luật. Thứ ba, phải có mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa hoạt động gây thiệt hại và hậu quả thiệt hại xảy ra.

2.1. Thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả

Thiệt hại thực tế phải được xác định cụ thể, có thể định lượng được và gây ra hậu quả đáng kể. Mối quan hệ nhân quả là mối liên hệ trực tiếp giữa hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ và thiệt hại xảy ra. Nếu thiệt hại xảy ra nhưng không có mối liên hệ nhân quả với hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ, thì không phát sinh trách nhiệm bồi thường.

2.2. Hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật

Hoạt động trái pháp luật của nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm việc sử dụng, quản lý, vận hành không đúng quy định pháp luật hoặc không theo đúng tiêu chuẩn an toàn. Điều này có thể bao gồm lỗi trong quản lý an toàn, vi phạm quy chuẩn kỹ thuật hoặc không tuân thủ quy định về sử dụng.

III. Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Pháp luật dân sự Việt Nam quy định rõ ràng về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Thứ nhất, chủ sở hữu của nguồn nguy hiểm cao độ là người chịu trách nhiệm chính, bất kể họ có tham gia vào hoạt động gây thiệt hại hay không. Thứ hai, nếu chủ sở hữu đã giao chiếm hữu, sử dụng cho người khác theo căn cứ pháp luật, thì người được giao này chịu trách nhiệm thay thế chủ sở hữu. Thứ ba, người chiếm hữu, sử dụng không có căn cứ pháp luật cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường. Cuối cùng, người thứ ba có liên quan đến hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ cũng có thể chịu trách nhiệm bồi thường trong những trường hợp cụ thể.

3.1. Trách nhiệm của chủ sở hữu và người được giao

Chủ sở hữu chịu trách nhiệm chính và trách nhiệm này không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, nếu chủ sở hữu đã giao người khác chiếm hữu, sử dụng theo quy định pháp luật (như cho thuê, cho vay), thì người được giao này sẽ chịu trách nhiệm thay thế. Cả hai bên đều có thể bị yêu cầu bồi thường nếu có vi phạm trong quá trình giao nhận.

3.2. Trách nhiệm của người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật

Nếu người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ không có căn cứ pháp luật (ví dụ: lấy trộm hoặc sử dụng trái phép), người này phải chịu trách nhiệm bồi thường hoàn toàn cho mọi thiệt hại gây ra. Trách nhiệm này rất nặng vì người đó là người trái phép sử dụng nguồn nguy hiểm.

IV. Căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Mặc dù trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là trách nhiệm tuyệt đối, pháp luật dân sự Việt Nam vẫn quy định hai căn cứ để loại trừ trách nhiệm này. Thứ nhất, nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại, người chịu trách nhiệm sẽ được miễn trách nhiệm hoàn toàn. Điều này có nghĩa là nạn nhân tự gây ra thiệt hại cho mình một cách cố ý. Thứ hai, nếu thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng (như thiên tai, động đất) hoặc tình thế cấp thiết (như tránh nguy hiểm lớn hơn), thì trách nhiệm cũng có thể được giảm nhẹ hoặc loại trừ. Tuy nhiên, những căn cứ này được áp dụng rất hạn chế và phải được chứng minh rõ ràng.

4.1. Lỗi cố ý của người bị thiệt hại

Lỗi cố ý của nạn nhân phải là nguyên nhân hoàn toàn gây ra thiệt hại, không phải là nguyên nhân từng phần. Ví dụ: nạn nhân biết rõ nguồn nguy hiểm cao độ đang hoạt động nhưng vẫn cố ý tiếp cận, gây thiệt hại cho bản thân. Đây là trường hợp rất hiếm và khó chứng minh trong thực tế.

4.2. Bất khả kháng và tình thế cấp thiết

Bất khả kháng là những sự kiện không lường trước được, không thể chống lại như động đất, bão, lũ lụt. Tình thế cấp thiết là tình huống buộc phải sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ để tránh nguy hiểm lớn hơn. Những căn cứ này có thể giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm, nhưng cần chứng minh rõ ràng.

11/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA 1. Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 1. Khái niệm, đặc điểm nguồn nguy hiểm cao độ Khái niệm “nguồn nguy hiểm cao độ” đã được xuất hiện trong pháp luật ở nhiều quốc gia song vẫn chưa có những sự thống nhất về khái niệm này. Trong pháp luật Hoa Kỳ về hành vi gây thiệt hại, với khái niệm “sự thiệt hại tiềm tàng” (Protential Harm) và nguyên tắc tổng quát “buộc mọi người phải thận trọng một cách hợp lý để không gây thiệt hại cho người khác”, “trách nhiệm tuyệt đối” (Strict Liability) đã cho thấy sự khắt khe tuyệt đối buộc một người có thể phải chịu trách nhiệm BTTH cho dù không cố ý gây thiệt hại hay đã có sự thận trọng cần thiết để tránh gây thiệt hại1.

BLDS của Thái Lan quy định: “Một người phải chịu trách nhiệm về tổn thất xảy ra do bất cứ sự vận chuyển nào được kéo, đẩy bằng máy móc được quyền chiếm hữu hoặc kiểm soát của người đó, trừ khi người đó chứng minh được là tổn thất bắt nguồn từ lý do bất khả kháng hoặc do lỗi của người bị thiệt hại. Điều này được áp dụng đối với người chiếm hữu những vật có thể gây nguy hiểm bởi tính chất, mục đích hoặc sự vận hành cơ khí của chúng”. Điều 494 BLDS nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 2018 quy định nguồn nguy hiểm cao độ là “phương tiện chạy bằng máy, hệ thống đường dẫn dây điện, nhà máy sản xuất công nghiệp, vũ khí, bom, vật cháy, hóa chất độc, phóng xạ, hóa chất hoặc các vật nguy hiểm khác”. Như vậy, theo quy định của pháp luật dân sự các nước vẫn chưa xuất hiện được một cách chính xác về khái niệm về nguồn nguy hiểm cao độ.

Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ mới chỉ được liệt kê và định nghĩa một cách cơ bản là 1 Trần Trà Giang (2011), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra”, Luận văn Thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. 8 những đối tượng luôn tiềm ẩn sự nguy hiểm, rủi ro cao đối với tính mạng, tài sản, sức khỏe của con người. Trên thực tế, khi bàn luận về khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ, có nhiều tranh luận đối với những sự vật có tính chất nguy hiểm được pháp luật công nhận là nguồn nguy hiểm cao độ. Nguồn nguy hiểm cao độ có những điểm chung như sau: Thứ nhất, nguồn nguy hiểm cao độ luôn “tiềm ẩn nguy cơ gây ra thiệt hại về vật chất mà không phải bao giờ con người cũng có thể lường trước được và có thể ngăn chặn”2.

Thứ hai, tần suất gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ cao hơn so với các loại tài sản khác, thường xảy ra liên tục (ví dụ nư các vụ cháy nổ dầu, ga, thuốc nổ, thuốc súng, pháo… thường kéo dài cho đến khi các chất này cháy hết, nổ hết). Thứ ba, ngay cả khi có sự kiểm soát, quản lý chặt chẽ của con người, nguồn nguy hiểm cao độ cũng có thể gây thiệt hại. Đặc điểm thứ tư thể hiện rõ, con người “không thể kiểm soát được một cách tuyệt đối nguy cơ gây thiệt hại”3. Thứ tư, hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ thường khó hạn chế, khắc phục, còn có khả năng gây ra hậu quả tiếp theo mà con người khó có thể ngăn chặn hoàn toàn (khó xử lý sự cố rò rỉ phóng xạ; ngăn chặn sự cố nổ liên hoàn của kho thuốc nổ).

Có nghĩa là, mặc dù con người có thể có trách nhiệm, ý thức trong việc quản lý nguồn nguy hiểm cao độ nhưng không có nghĩa là bảo đảm được một cách chắc chắn rằng những tài sản đó sẽ không gây ra thiệt hại. Bởi vì theo đặc tính cơ bản của nguồn nguy hiểm cao độ là những loại tài sản ẩn chứa nguy cơ cao gây ra thiệt hại. Hiện nay, BLDS 2015 vẫn tiếp tục sử dụng phương thức liệt kê giống như trong BLDS 1995 và 2005 để xác định các loại nguồn nguy hiểm cao độ. Các 2 Phùng Trung Tập (2009), Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe và tính mạng, NXB Hà Nội, Hà Nội, tr.

3 Trần Thị Huệ (2013), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam, sách chuyên khảo, NXB. Chính trị - Hành chính, Hà Nội, tr76. 9 nhà làm luật Việt Nam quy định về nguồn nguy hiểm cao độ được thể hiện rõ tại Khoản 1 Điều 601 BLDS năm 2015: “nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định”4. Ưu điểm của phương thức liệt kê đó là rõ ràng, dễ hiểu.

Tuy nhiên, nhược điểm của phương thức này có thể là liệt kê không đầy đủ, dẫn đến thiếu sót và đồng thời phương thức liệt kê không xác định rõ được bản chất của nguồn nguy hiểm cao độ. Trên thực tế, việc xác định nguồn nguy hiểm cao độ không chỉ căn cứ vào BLDS 2015 mà còn phải căn cứ vào các văn bản, quy định khác có liên quan. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2022/NQHDTP về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: “nguồn nguy hiểm cao độ được xác định theo quy định tài Điều 601 BLDS và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan”. Vì vậy, để xác định được NNHCĐ, cần làm rõ các khái niệm được liệt kê tại Điều 601 BLDS 2015 thông qua các quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật có liên quan.

Thứ nhất, về phương tiện giao thông vận tải cơ giới: Phương tiện giao thông vận tải cơ giới gồm phương tiện vận tải hoạt động trên đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không “được trang bị và hoạt động bằng máy móc”. Tuy nhiên không phải tất cả các phương tiện giao thông đều là NNHCĐ mà chỉ những phương tiện được pháp luật quy định thì mới được xem là nguồn nguy hiểm cao độ. Đối với phương tiện giao thông vận tải đường bộ: Căn cứ Điều 2 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 quy định: “Phương tiện giao thông đường bộ là các loại xe, bao gồm: phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới), phương tiện giao thông thô sơ đường bộ (sau đây gọi là xe thô sơ), xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự. 4 Khoản 1 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015.

10 Đối với phương tiện giao thông đường thủy: Theo Khoản 7 Điều 3 Luật giao thông đường thủy nội địa năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định: “phương tiện thủy nội địa là tàu, thuyền và các cấu trúc nổi khác, có động cơ và không có động cơ, hoạt động trên đường thủy nội địa” và Khoản 1 Điều 4 Luật hàng hải năm 2015 quy định: “tàu thuyền là phương tiện hoạt động trên mặt nước hoặc dưới mặt nước bao gồm tàu, thuyền và các phương tiện khác có động cơ hoặc không có động cơ.” Đối với phương tiện vận tải đường sắt: Theo Khoản 26 Điều 4 Luật đường sắt năm 2017 có quy định như sau: “phương tiện giao thông đường sắt là đầu máy, toa xe, phương tiện chuyên dùng di chuyển trên đường sắt”. Đối với phương tiện vận tải hàng không: Theo Khoản 1 Điều 13 Luật hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định: “tàu bay là thiết bị được nâng giữ trong khí quyển nhiều tác động tương hỗ với không khí, bao gồm: máy bay, trực thăng, tàu lượn, khí cầu và các thiết bị bay khác, trừ thiết bị được nâng giữ trong khí quyển nhiều tác động tương hỗ với không khí phản lại từ bề mặt trái đất.” Thứ hai, về hệ thống tải điện và nhà máy công nghiệp: hệ thống tải điện được hiểu là đường dây truyền dẫn điện, công tơ, máy phát điện, cầu dao. Còn nhà máy công nghiệp gồm nhà máy công nghiệp nhẹ, nhà máy công nghiệp nặng. Phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp chỉ được coi là nguồn nguy hiểm cao độ khi chúng hoạt động, nếu chúng ở trạng thái tĩnh, chúng sẽ không gây nguy hiểm cho những người xung quanh.

Thứ ba, về vũ khí: Vũ khí gồm vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và các loại vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự theo Pháp lệnh số 16/2011 sửa đổi, bổ sung 2014. Cụ thể: Vũ khí quân dụng gồm: Súng cầm tay hạng nhỏ là vũ khí được thiết kế cho cá nhân sử dụng gồm súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên, súng trung liên và các loại súng khác có tính năng, tác dụng tương tự. 11 Súng săn là súng dùng để săn gồm súng kíp, súng hơi, các loại súng khác có tính năng, tác dụng tương tự. Vũ khí thô sơ gồm các loại dao găm, kiếm, giáo, mác, lưỡi lê, đao, mã tấu, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ.

Vũ khí thể thao là súng và các loại vũ khí thô sơ dùng để luyện tập, thi đấu thể thao. Tuy nhiên, không phải tất cả các loại vũ khí trên khi sử dụng đều mang tính chất nguy hiểm cao độ. Bởi, với các loại vũ khí thô sơ là công cụ sản xuất, tư liệu sinh hoạt như dao găm, đinh ba… thì không thể coi là nguồn nguy hiểm cao độ. Thứ tư, về chất cháy, chất nổ: chất nguy hiểm về cháy, nổ là chất lỏng, chất khí, chất rắn hoặc hàng hoá, vật tư dễ xảy ra cháy, nổ theo quy định của Luật phòng cháy và chữa cháy năm 2001.

Chất cháy là chất có đặc tính tự bốc cháy khi tiếp xúc với ôxy trong không khí, nước hoặc khi có tác động của các yếu tố khác và những chất dễ tự bốc cháy ở nhiệt độ không cao như: diêm tiêu (ka-li-nitrat), phốt pho, thuốc đạn,. hoặc hóa chất nguy hiểm dễ cháy theo quy định của pháp luật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ