Khóa luận tốt nghiệp luật học trả lại đơn khởi kiện trong giải quyết vụ án dân sự

Khóa luận phân tích quy trình trả lại đơn khởi kiện trong giải quyết vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam, giúp hiểu rõ các bước và quy định liên quan.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

87
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và Đặc điểm của Trả lại Đơn Khởi Kiện

Trả lại đơn khởi kiện là một quyết định của toà án dân sự trong trường hợp đơn khởi kiện không đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đây là một thủ tục quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia tố tụng và đảm bảo hiệu quả giải quyết vụ án dân sự. Quyết định trả lại đơn khởi kiện không phải là một bản án, mà là một quyết định tố tụng có tính chất thủ tục, không giải quyết về cơ bản nội dung tranh chấp. Đặc điểm của việc trả lại đơn khởi kiện bao gồm: xảy ra tại giai đoạn sơ thẩm, có tính tạm thời, và cho phép người khởi kiện sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện để gửi lại toà án. Ý nghĩa của quy định trả lại đơn nằm ở việc loại trừ những vụ án không đủ điều kiện, giúp toà án tập trung giải quyết các vụ án hợp lệ và đúng thẩm quyền.

1.1. Khái niệm Trả lại Đơn Khởi Kiện

Trả lại đơn khởi kiện là quyết định của toà án khi xét thấy đơn khởi kiện không đáp ứng các điều kiện quy định. Đây là hành động thủ tục tố tụng, không phải là phán quyết về cơ bản vụ án. Quyết định trả lại cho phép người khởi kiện có cơ hội sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện để gửi lại toà án, khác với bác bỏ đơn khởi kiện là quyết định cuối cùng không có tính tạm thời.

1.2. Đặc Điểm Pháp Luật của Quyết Định Trả lại

Đặc điểm trả lại đơn bao gồm: xảy ra ở giai đoạn đầu tố tụng, có tính thủ tục, không giải quyết cơ bản tranh chấp. Quyết định trả lại có thể được phục hồi nếu người khởi kiện cải chính được các thiếu sót. Quy định pháp luật về trả lại đơn nhằm bảo vệ quyền khởi kiện của công dân và đảm bảo chất lượng giải quyết vụ án.

II. Căn Cứ Pháp Luật Trả lại Đơn Khởi Kiện

Theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, toà án trả lại đơn khởi kiện khi xảy ra một số trường hợp cụ thể. Thứ nhất, người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Thứ hai, đơn khởi kiện chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định. Thứ ba, sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật. Thứ tư, hết thời hạn mà người khởi kiện không nộp biên lai tạm ứng án phí. Thứ năm, vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án. Ngoài ra, căn cứ trả lại đơn còn bao gồm trường hợp người khởi kiện không sửa đổi bổ sung theo yêu cầu hoặc rút đơn khởi kiện. Quy định pháp luật này tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho quyết định trả lại của toà án.

2.1. Căn Cứ Liên Quan đến Người Khởi Kiện

Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc thiếu năng lực hành vi tố tụngcăn cứ trả lại đơn quan trọng. Quyền khởi kiện phải được pháp luật thừa nhận, và người khởi kiện phải có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Quy định này bảo vệ quyền lợi của các bên và đảm bảo tính hợp lệ của vụ án dân sự.

2.2. Căn Cứ Liên Quan đến Điều Kiện Khởi Kiện

Điều kiện khởi kiện được pháp luật quy định rõ, bao gồm quốc tịch, địa bàn hoạt động, thẩm quyền địa phương của toà án. Nếu đơn khởi kiện chưa đáp ứng những điều kiện này, toà án sẽ trả lại đơn khởi kiện. Người khởi kiện có thể sửa đổi đơn khởi kiện để đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định pháp luật.

III. Thẩm Quyền và Thủ Tục Trả lại Đơn Khởi Kiện

Thẩm quyền trả lại đơn khởi kiện thuộc về thẩm phán hoặc hội đồng xét xửgiai đoạn sơ thẩm. Thủ tục trả lại đơn khởi kiện được quy định chi tiết trong Bộ luật Tố tụng dân sự, bắt đầu từ khi toà án tiếp nhận đơn khởi kiện. Thẩm phán có nhiệm vụ kiểm tra xem đơn khởi kiện có đáp ứng đủ các điều kiện không. Nếu phát hiện thiếu sót, thẩm phán phải yêu cầu người khởi kiện sửa đổi, bổ sung trong thời hạn quy định. Thủ tục này bảo đảm minh bạch, công bằng và tuân thủ quy định pháp luật. Quyết định trả lại phải có lý do cụ thể, giúp người khởi kiện hiểu rõ những thiếu sót cần sửa chữa. Hậu quả pháp lý của quyết định trả lại đơn khởi kiện là người khởi kiện có quyền sửa đổi gửi lại hoặc khởi kiện lại sau khi khắc phục sự cố.

3.1. Thẩm Quyền Trả lại Đơn Khởi Kiện

Thẩm quyền trả lại đơn khởi kiện thuộc về thẩm phán sơ thẩm của toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án. Thẩm phánquyền hạn quyết định trả lại đơn khởi kiện khi xét thấy không đáp ứng điều kiện khởi kiện. Quy định pháp luật này đảm bảo quyền lợi của cả người khởi kiệnbị đơn.

3.2. Thủ Tục và Hậu Quả Pháp Lý

Thủ tục trả lại bắt đầu với việc toà án yêu cầu người khởi kiện sửa đổi bổ sung trong thời hạn xác định. Nếu người khởi kiện không sửa chữa theo yêu cầu, toà án ra quyết định trả lại đơn khởi kiện. Hậu quảvụ án chưa được thụ lý, người khởi kiện có thể khởi kiện lại sau khi khắc phục sự cố.

IV. Kiến Nghị và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Trả lại Đơn

Thực tiễn áp dụng pháp luật về trả lại đơn khởi kiện cho thấy vẫn còn nhiều vướng mắc và hạn chế cần khắc phục. Thứ nhất, cần hoàn thiện quy định pháp luật để làm rõ quyền khởi kiện lại sau khi toà án trả lại đơn khởi kiện. Thứ hai, cần hướng dẫn chi tiết cho thẩm phán về các trường hợp trả lại đơn để đảm bảo thống nhất áp dụng pháp luật. Thứ ba, cần nâng cao chất lượng trong tiếp nhận và xử lý đơn khởi kiện tại giai đoạn sơ thẩm. Thứ tư, cần tuyên truyền, giáo dục pháp luật để người dân hiểu rõ về điều kiện khởi kiện và những vấn đề liên quan. Giải pháp này sẽ giúp giảm thiểu số lượng vụ án bị trả lại đơn khởi kiện và nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án dân sự.

4.1. Kiến Nghị Hoàn Thiện Pháp Luật

Cần sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự để quy định rõ ràng về quyền khởi kiện lại sau trả lại đơn khởi kiện. Quy định này sẽ bảo vệ quyền lợi của người khởi kiệnđảm bảo công bằng. Cần bổ sung hướng dẫn chi tiết về các trường hợp cụ thể của trả lại đơn khởi kiện.

4.2. Kiến Nghị Bảo Đảm Thực Hiện Pháp Luật

Cần tuyên truyền rộng rãi quy định về trả lại đơn khởi kiện để người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ. Cần đào tạo thẩm phán về áp dụng đúng pháp luật. Cần cải thiện tiếp nhận đơn khởi kiện để giảm thiểu trả lại đơn khởi kiện không cần thiết.

11/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 đã đề cập tới những vấn đề lý luận của đề tài “Trả lại đơn khởi kiện trong giải quyết vụ án dân sự”: “Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của trả lại đơn khởi kiện trong giải quyết vụ án dân sự; cơ sở của việc pháp luật quy định về việc trả lại đơn khởi kiện trong giải quyết vụ án dân sự; các yêu tố ảnh hưởng đến trả lại đơn khởi kiện trong giải quyết vụ án dân sự.” Từ đó, làm tiền đề để phân tích những quy định pháp luật hiện hành trong chương II và là cơ sở để đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả pháp luật về “Trả lại đơn khởi kiện trong giải quyết vụ án dân sự” 17 CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 2. Căn cứ trả lại đơn khởi kiện Trong lịch sử PLTTDS Việt Nam, căn cứ trả lại đơn khởi kiện đã từng được quy định tại Điều 36 Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Điều 32 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Điều 34 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996. Sau này, do BLTTDS năm 2004 và Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS năm 2011 đã thống nhất quy định thủ tục tố tụng giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động về một mối. Nên trong BLTTDS năm 2004, căn cứ trả lại đơn khởi kiện đã được quy định chung, đầy đủ hơn so với các Pháp lệnh trước đây tại Điều 168.

Hiện nay, căn cứ trả lại đơn khởi kiện được quy định trong BLTTDS năm 2015 có hiệu lực pháp luật từ ngày 01/07/2016 và được áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 BLTTDS số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án (sau đây gọi là Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP) đã thống nhất về nhận thức và biện pháp giải quyết đối với một số căn cứ, quy định về Trả lại đơn khởi kiện trong BLTTDS năm 2015. Theo khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 và Nghị quyết số 04/2017/NQ- HĐTP, Tòa án trả lại đơn khởi kiện trong những trường hợp sau: 2. Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự - Về “người khởi kiện không có quyền khởi kiện”.

Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng dân sự của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức xã hội yêu cầu toà án bảo vệ quyền, lợi 18 ích hợp pháp của mình hay người khác.Quyền khởi kiện vụ án dân sự có thể được chính người có quyền khởi kiện hoặc thông qua người đại diện của họ.8 Nếu một chủ thể không có quyền này thì dù có làm đơn khởi kiện đến Toà án thì Toà án cũng trả lại đơn khởi kiện. Theo Điều 186 BLTTDS năm 2015 quy định về quyền khởi kiện vụ án thì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cơ quan được cho rằng bị xâm phạm hay tranh chấp; thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp của để khởi kiện vụ án. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp đặc biệt9, các cơ quan ,tổ chức, cá nhân được quy định trong Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có thể khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và nhà nước. Để xác định một người không có quyền khởi kiện, Điều 2 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP đã hướng dẫn: người khởi kiện không có quyền khởi kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Thứ nhất: “ Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186, Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bao gồm: + Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện không nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà mình là người đại diện hợp pháp; + Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện không thuộc trường hợp theo quy định của pháp luật có quyền khởi 8 Trường Đại học Luật Hà Nội (2000), Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Nxb.

Công an nhân dân, Hà Nội, tr 233. 9 (i) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam; (ii) Tổ chức đại diện tập thể lao động; (iii) Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; (iv) Cơ quan, tổ chức trong một số lĩnh vực; (v) Cha mẹ, người thân thích khởi kiện ly hôn cho vợ, chồng bị bệnh tâm thần và là nạn nhân của bạo lực gia đình. 19 kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước. Ví dụ: Tổ chức A (không phải là tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010) cho rằng Công ty B bán hàng hóa không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng như đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết dẫn đến việc chị C (người tiêu dùng) mua sử dụng bị thiệt hại nên Tổ chức A làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty B bồi thường thiệt hại cho chị C.

Trường hợp này, Tổ chức A không có quyền khởi kiện vụ án bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định tại khoản 3 Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.” Trong Tố tụng dân sự, quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự là quyền cơ bản, có giá trị xuyên suốt cả quá trình tố tụng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 BLTTDS năm 2015: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”. Việc một cá nhân, tổ chức nào đó khởi kiện không nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà mình là người đại diện hợp pháp, hoặc mình có trách nhiệm phải bảo vệ là đi trái lại với nguyên tắc trên.

Thứ hai: “Yêu cầu khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân không cần xác minh, thu thập chứng cứ cũng đủ căn cứ kết luận là không có việc quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm hoặc cần bảo vệ. Ví dụ: Cụ A chết năm 2010, để lại di sản là căn nhà X nhưng không có di chúc và không có thỏa thuận khác. Cụ A có con là ông B (còn sống, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản theo Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015). Trường hợp này, theo quy định 20 của pháp luật về thừa kế thì anh C là con của ông B không có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản của cụ A theo pháp luật.” Như vậy, điều kiện đầu tiên để khởi kiện vụ án dân sự là người khởi kiện phải là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền và lợi ích hợp pháp (hoặc là người đại diện hợp pháp của quyền và lợi ích bị xâm phạm) liên quan đến các lĩnh vực như dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và những quyền và lợi ích đó phải đã hoặc đang bị xâm phạm.

Chỉ khi quyền và lợi ích bị xâm phạm, người khởi kiện mới có thể yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án để bảo vệ quyền lợi của mình. Đối với trường hợp rõ ràng không có quyền và lợi ích bị xâm phạm, Toà án trả lại đơn khởi kiện là hoàn toàn hợp pháp và hợp lý. - Về “người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự”. Theo khoản 2 Điều 69 BLTTDS năm 2015, năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 69 BLTTDS năm 2015: “Đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác. Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì năng lực hành vi tố tụng dân sự của họ được xác định theo quyết định của Tòa án.” Khoản 4,5,6 Điều 69 BLTTDS năm 2015 đã quy định các trường hợp không có năng lực hành vi tố tụng dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi tố tụng dân sự cụ thể như sau: + Đương sự là người chưa đủ sáu tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng dân sự. Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện. + Đương sự là người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi thì việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích 21 hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ