CHƯƠNG I ĐỐI TƯỢNG, CHỨC NĂNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ. Đối tượng của Kinh tế chính trị: Kinh tế chính trị là môn khoa học xã hội, nghiên cứu những cơ sở kinh tế chung của đời sống xã hội, nghiên cứu mối quan hệ kinh tế giữa người với người trong sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng qua các giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loại người, tức là nghiên cứu quan hệ sản xuất Đặc điểm: - Kinh tế chính trị nghiên cứu quan hệ sản xuất một cách toàn diện các nội dung của quan hệ sản xuất và bốn nội dung của quá trình tái sản xuất - Kinh tế chính trị nghiên cứu quan hệ sản xuất trong sự tác động qua lại với LLSX, sự tác động này dẫn đến sự vận động của xã hội qua các giai đoạn lịch sử khác nhau - Kinh tế chính trị nghiên cứu QHSX nhưng gắn với việc nghiên cứu cơ sở kinh tế hạ tầng trong sự tác động qua lại với kiến trúc thượng tầng - Kinh tế chính trị đi sâu nghiên cưu bản chất của QHSX, tức nghiên cứu các phạm trù kinh tế và các quy luật kinh tế chi phối quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi tiêu dùng. Vị trí, chức năng và sự cần thiết nghiên cứu kinh tế chính trị: 2. Vị trí, chức năng của kinh tế chính trị: a.
Vị trí: Kinh tế chính trị giữ vị trí là môn khoa học cơ bản, làm cơ sở co việc xác định đường lối, chính sách kih tế của Nhà nước, làm cơ sở cho các môn khoa học kinh tế ngành và quản lý kinh tế. Chức năng: - Chức năng nhận thức: Kinh tế chính trị nghiên cứu và giải thích các hiện tượngvà quá trình kinh tế của đời sống xã hội nhằm phát hiện bản chất của các hiện tượng, quá trình trên và các quy luật khách quan chi phối sự vận động của nó, để con người vận dụng vào các hoạt động kinh tế nhằm đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao - Chức năng thực tiễn: + Kinh tế chính trị phục vụ hoạt động thực tiễn của con người, bảo đảm cho các quá trình kinh tế đạt hiệu quả cao + Vạch ra bản chất, phát hiện các quy luật kinh tế, chỉ ra các phương pháp và hình thức vận dụng chúng. + Kinh tế chính trị xuất phát từ thực tiễn, đi sâu nghiên cứu đời sống hiện thực để rút ra các luận điểm, kết luận có tính khái quát trở lại chỉ đạo thực tiễn, cung cấp cơ sở khoa học để Nhà nước xác định đường lối, chính sách, biện pháp thúc đẩy hoạt động thực tiễn mang lại hiệu quả cao hơn. 3 - Chức năng phương pháp luận: Các phạm trù, quy luật kinh tế chung là cơ sở phương pháp luận cho toàn bộ các khoa học kinh tế ngành (kinh tế công nghiệp, công nghiệp, xây dựng, giao thông) và các môn kinh tế chức năng (kinh tế lao động, kế hoạch, tài chính, tín dụng, thống kê…) và một số môn khoa học khác - Chức năng tư tưởng: Kinh tế chính trị xuất phát từ lợi ích và bảo vệ lợi ích của một giai cấp hoặc tầng lớp xã hội nhất định nên nó luôn mang tính giai cấp.
Nó xây dựng hệ thống quan điểm lý luận chung về sự phát triển của nền kinh tế và quản lý kinh tế.2 Sự cần thiết phải nghiên cứu kinh tế chính trị: - KTCT Mac-Lênin có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội và trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay nhằm khắc phục sự lạc hậu về lý luận kinh tế, sự giáo điều, tách rời lý luận với cuộc sống, góp phần hình thành tư duy kinh tế mới. - KTCT Mac-Lênin cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp luận nhằm học tốt các môn khoa học kinh tế ngành. Phương pháp của kinh tế chính trị: 3. Phương pháp biện chứng duy vật - Khi xem xét các hiện tượng và quá trình kinh tế phải đặt trong mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, thường xuyên vận động, phát triển không ngừng, chứ không phải là bất biến.
- Quá trình phát triển là quá trình tích luỹ những biến đổi về lượng dẫn đến những biến đổi về chất. Phép biện chứng duy vật coi nguồn gốc của sự phát triển là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. - Khi xem xét các hiện tượng và quá trình kinh tế phải gắn liền với những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.2 Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: đây là phương pháp quan trọng của kinh tế chính trị. Phương pháp trừu tượng hóa khoa học đòi hỏi phải gạt bỏ những yếu tố ngẫu nhiên xảy ra trong quá trình nghiên cứu, tách những cái điển hình, bền vững, ổn định trong những hiện tượng và quá trình đó, trên cơ sở đó nắm bản chất của các hiện tượng.
Yêu cầu của phương pháp: giới hạn của sự trừu tượng hóa. Việc loại bỏ các yếu tố bề mặt phải đảm bảo tìm ra mối quan hệ bản chất giữa các hiện tượng dưới dạng thuần túy nhất của nó; đồng thời phải đảm bảo không làm mất nội dung hiện thực của các quan hệ được nghiên cứu. Trừu tượng hóa khoa học gắn liền với quá trình nghiên cứu đi từ cụ thể đến trừu tượng và phải được bổ sung bằng 1 quá trình ngược lại: đi từ trừu tượng đến cụ thể. Ngoài ra, kinh tế chính trị còn sử dụng nhiều phương pháp khác như lôgíc và lịch sử, phân tích và tổng hợp, các phương pháp toán học, thống kê, mô hình hoá các quá trình kinh tế được nghiên cứu, v.
4 CHƯƠNG 2 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển Kinh tế chính trị I. Những tư tưởng kinh tế chủ yếu trong thời cổ đại và trung cổ - cơ sở cho sự ra đời kinh tế chính trị học 1. Tư tưởng kinh tế thời cổ đại a. Đặc trưng kinh tế - xã hội thời cổ đại: - Chiến hữu nô lệ giữ vai trò thống trị, nô lệ là đối tượng chủ yếu của sở hữu, có số lượng nhiều hơn dân tự do - Thương nghiệp và tiền tệ đã bắt đầu xuất hiện - Chiến tranh giữa các quốc gia nhằm chiếm đoạt nô lệ, đấu tranh giữa giai cấp nô lệ và chủ nô diễn ra khốc liệt Những đại biểu tiêu biểu cho tư tưởng kinh tế thời cổ đại: Platon (427 - 347 TCN) và Arixtốt (384 - 322 TCN) b.
Đặc điểm tư tưởng kinh tế thời cổ đại: - Coi xã hội nô lệ là tất yếu và duy nhất. Chiến tranh là nguồn bổ sung nô lệ. - Coi khinh lao động chân tay, xem lao động chân tay là điều hổ thẹn, làm hỏng con người. Công dân chỉ nên tham gia chiến trận và quản lý nhà nước.
- Lên án hoạt động thương nghiệp và cho vay nặng lãi. - Muốn tìm hiểu bản chất các hiện tượng kinh tế, như phân công lao động xã hội, trao đổi sản phẩm, phân biệt giá trị sử dụng với giá trị trao đổi hàng hóa, một số chức năng của tiền, ảnh hưởng của cung cầu tới giá cả hàng hóa, đặc điểm thương nghiệp và hoạt động cho vay… 1. Tư tưởng kinh tế thời trung cổ a. Đặc trưng kinh tế - xã hội: - Nền kinh tế căn bản còn là kinh tế tự nhiên, kinh tế hàng hóa giao lưu kinh tế kém phát triển.
- Nông nghiệp là lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế, lãnh chúa là người quyết định tất cả: đất đai, tư liệu sản xuất khác, lao động, tổ chức sản xuất và phân phối lao động. - Cuối thời kỳ trung cổ bắt đầu có sự giao lưu giữa các vùng. Các tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công xuất thân từ nông nô sống trong các thị trấn. Đây là tiền thân của giai cấp tư sản sau này.
Đặc điểm tư tưởng kinh tế thời trung cổ: Tư tưởng thời kỳ trung cổ biểu hiện tập trung ở các luận điểm kinh tế của Xanh Tôma Đacanh (1225- 1274): - Về quyền tư hữu: được coi là quyền do tạo hóa giao phó trong việc quản lý tài vật. Người có quyền sở hữu là người giàu, có trách nhiệm phân chia lại tài sản của mình cho người nghèo. - Về các hoạt động kinh tế: 5 + Hoạt động trực tiếp tạo ra của cải vật chất được hoan nghênh. Lao động được coi là phương tiện để sống chân chính, tiền công lao động phải được trả sòng phẳng.
+ Hoạt động trung gian: buôn bán, cho vay lấy lãi, hưởng lợi dựa trên lao động của người khác đáng chê trách, phải bị trừng phạt. - Về tiền tệ: Vua là người độc quyền phát hành tiền đúc và ấn định lượng vàng bạc trong mỗi đơn vị tiền đúc. Giá trị của tiền gắn với đặc tính tự nhiên của nó, tức gắn với vật liệu làm ra tiền vì vậy các nhà kinh tế phản đối việc cắt xén khối lượng tiền làm cho tiền bị mất giá. - Về địa tô: Coi địa tô là điều hợp lý vì địa tô là một khoản thu nhập của ruộng đất do sự giúp đỡ của tự nhiên, khác với thu nhập từ tư bản là do sư lừa dối.
- Về tư bản và lợi nhuận: Nghiêm cấm việc cho vay nặng lãi làm cho lãi suất cho vay lên cao vì số người cho vay ít. Việc cấm cho vay ngày càng bớt khắt khe hơn do đòi hỏi của yêu cầu phát triển kinh tế. -Về dân số: Quan niệm chung cho rằng tăng dân số là có lợi cho sản xuất và an ninh bờ cõi, là hợp ý chúa. Sự phát sinh phát triển kinh tế chính trị học tư sản cổ điển 2.
Chủ nghĩa trọng thương a. Hoàn cảnh ra đời: Chủ nghĩa trọng thương là tư tưởng và chính sách kinh tế của giai cấp tư sản trong giai đoạn tan rã của chế độ phong kiến và thời kỳ tích lũy nguyên thủy tư bản. - Xuất hiện trong thời kỳ kinh tế hàng hóa đã phát triển mạnh, tầng lớp thương nhân dần trở thành bá chủ trong xã hội và là thời kỳ có nhiều phát kiến lớn về địa lý. - Tư bản thương nghiệp chiến ưu thế hơn tư bản công nghiệp - Khoa học tư nhiên phát triển mạnh mẽ - Xuất hiện phong trào phục hưng chống lại tư tưởng thời kỳ trung cổ và xuất hiện chủ nghĩa duy vật chống lại thuyết duy tâm của nhà thờ.
Những tư tưởng kinh tế chủ yếu của chủ nghĩa trọng thương: - Coi tiền là nội dung căn bản của của cải, biểu hiện sự giàu có của quốc gia. - Việc thu hút vàng bạc vào trong nước chỉ được thực hiện bằng con đường thương mại, đặc biệt là ngoại thương. Lợi nhuận thương nghiệp là kết quả của sự trao đổi không ngang giá - Phải sử dụng quyền lực nhà nước để phát triển kinh tế.