Chương 1- GIỚI THIỆU 1. Lý do chọn đề tài Nghiên cứu nền kinh Việt Nam trong giai đoạn hơn thập kỷ qua, có nhiều bất ổn đối với các biến số kinh tế vĩ mô: kinh tế có những thời điểm tăng trưởng nóng, những đợt sóng lạm phát cao, bong bóng bất động sản, biến động thị trường chứng khoán… Những bất ổn biến số kinh tế vĩ mô Việt Nam có nguyên nhân từ Chính sách tiền tệ (CSTT) hay không và thay đổi CSTT có tác động tới các biến số đó? Các bài nghiên cứu trước đây về CSTT gặp phải khó khăn trong vấn đề chọn biến đại diện CSTT và nhận diện các cú sốc. Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ, có thể kể đến như nghiên cứu của Nguyễn Phi Lân (2010), Trần Ngọc Thơ và Nguyễn Hữu Tuấn (2013). Hai bài nghiên cứu sử dụng cung tiền M2, lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 3 tháng và tỷ giá hối đoái là biến đại diện cho CSTT.
Những biến này có thực sự đại diện một cách chuẩn xác nhất không? Các nghiên cứu của (Bernanke & Blinder, 1992; Bernanke & Gertler, 1995; Blanchard, 1990; Friedman, 1995; Romer & Romer, 1989) tại các nước phát triển, CSTT có ảnh hưởng đến sản lượng ít nhất trong ngắn hạn. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu này chưa thể khẳng định với Việt Nam. Bởi sự khác biệt trong điều hành CSTT của Ngân hàng Trung ương Việt Nam với các nước phát triển. Trong thời kỳ bình thường, Ngân hàng Trung ương (NHTW) tại các nước phát triển như Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) và Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) chủ yếu sử dụng hoạt động thị trường mở để điều chỉnh lãi suất ngắn hạn.
Nên có nhiều ý kiến đồng thuận nên đo lường CSTT của FED và ECB bằng lãi suất ngắn hạn. Trong khi đó Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam sử dụng rất nhiều công cụ, mỗi giai đoạn tùy theo mức độ thị trường sử dụng các công cụ khác nhau, ngoài các công cụ truyền thống còn có công cụ phi truyền thống đó là các biện pháp hành chính như trần lãi suất, hạn mức tín dụng, các gói cứu trợ… Vấn đề này đã được nhắc đến trong nghiên cứu của Sun (2012) khi nghiên cứu về CSTT của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc. Tác giả nhận thấy có nhiều điểm khá tương đồng về hoạt động của NHNN Việt Nam và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, từ bài nghiên cứu của Sun 123doc 3 (2012) sử dụng phương pháp tường thuật với nền kinh tế Trung Quốc tác giả muốn thực hiện một nghiên cứu với nền kinh tế Việt Nam. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Bài nghiên cứu với mục tiêu tìm được câu trả lời cho câu hỏi: Những bất ổn kinh tế vĩ mô Việt Nam có xuất phát từ nguyên nhân tiền tệ và điều hành CSTT có tác động vào các biến số kinh tế vĩ mô đó.
Để trả lời cho câu hỏi này bài nghiên cứu đi giải quyết hai khó khăn gặp phải khi nghiên cứu về CSTT của các nghiên cứu trước đây: Vấn đề thứ nhất, vấn đề đo lường CSTT - dùng công cụ nào để đại diện cho việc đo lường CSTT? NHTW ở các nước phát triển như FED hay ECB chủ yếu sử dụng nghiệp vụ thị trường mở để điều hành lãi suất ngắn hạn trên thị trường tiền tệ. Do đó, có thể dùng lãi suất để đại diện cho CSTT tại các nước phát triển. Còn NHNN Việt Nam sử dụng rất nhiều công cụ, trong mỗi giai đoạn tùy theo tình hình thị trường sử dụng công cụ khác nhau để điều hành CSTT. Những thay đổi của các công cụ không nhất thiết đồng nhất về tần suất và mức độ ảnh hưởng.
Không có công cụ nào có thể đại diện cho tác động của tất cả các công cụ còn lại, cũng như phản ánh chính xác những thay đổi chính sách của NHNN Việt Nam. Vấn đề thứ hai, vấn đề nhận diện - phải nhận diện được mối quan hệ tương tác giữa sản lượng thực của nền kinh tế với CSTT. Bởi NHNN Việt Nam theo đuổi CSTT đa mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, thúc đẩy kinh tế xã hội… (theo Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997). Tức là có những giai đoạn NHNN Việt Nam nhìn sản lượng để điều hành CSTT nhưng bản thân CSTT khi thực thi tác động ngược lên sản lượng.
Phản ứng nội sinh giữa CSTT và sản lượng gây khó khăn trong việc xử lý trật tự các biến trong mô hình. Do đó cần tìm được các cú sốc ngoại sinh, nghĩa là việc thay đổi CSTT do nhân tố khác mà không phải do sản lượng gây ra. 123doc 4 Bài nghiên cứu sẽ tiến hành giải quyết hai vấn đề còn tồn tại trong các nghiên cứu trước, đồng thời bổ sung bằng chứng thực nghiệm về tác động của CSTT lên các biến vĩ mô tại Việt Nam. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là cú sốc CSTT và các biến kinh tế vĩ mô.
Trong phạm vi những cú sốc CSTT do lạm phát gây ra, nghiên cứu tác động của CSTT lên hai biến vĩ mô là sản lượng và lạm phát. Dùng chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) đại diện cho biến sản lượng và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đại diện cho lạm phát. Dữ liệu nghiên cứu theo tháng, giai đoạn 2003 – 2016. Phương pháp nghiên cứu Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận tường thuật để giải quyết hai vấn đề còn tồn tại trong nghiên cứu CSTT tại Việt Nam.
Bằng cách đọc các tài liệu lịch sử xác định các cú sốc ngoại sinh của CSTT với sản lượng thực. Sử dụng một mô hình hồi quy đơn giản để đo lường tác động của CSTT lên sản lượng và lạm phát. Kết quả được kiểm định bằng mô hình VAR hai biến và so sánh với các phương pháp đo lường khác. Ý nghĩa của đề tài Bài nghiên cứu củng cố bằng chứng thực nghiệm về tác động của CSTT lên nền kinh tế thực bằng một phương pháp tiếp cận mới tránh được hạn chế của những phương pháp truyền thống.
Kết cấu của luận văn Bài nghiên cứu gồm nội dung chính sau đây: (1) Khung lý thuyết về CSTT và tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây: Một số nghiên cứu CSTT theo cách tiếp cận tường thuật được khởi xướng từ Friedman và Schwartz (1963) dữ liệu nghiên cứu từ Mỹ giai đoạn trước và trong chiến tranh thế giới, sau này Romer và Romer (1989) tiếp tục nghiên cứu nền kinh tế Mỹ bổ sung những cú sốc tiền tệ giai đoạn hậu chiến, phương pháp này còn được 123doc 5 Sun (2012) nghiên cứu với nền kinh tế Trung Quốc - một thị trường gần Việt Nam hơn cả về địa lý lẫn hoạt động điều hành thực thi chính sách. Một số nghiên cứu tác động của CSTT đối với nền kinh tế Việt Nam, kể đến như Nguyễn Phi Lân (2010), Trần Ngọc Thơ và Nguyễn Hữu Tuấn (2013). (2) Tổng quan về NHNN Việt Nam và công cụ điều hành chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam: Phần này sẽ giới thiệu một cách khái quát lịch sử NHNN Việt Nam, các công cụ điều hành CSTT mà NHNN Việt Nam sử dụng trong thời gian qua. Qua đó làm rõ kết luận rằng NHNN Việt Nam sử dụng nhiều công cụ điều hành chính sách và từng thời kỳ mỗi công cụ lại có vai trò khác nhau, chính vì vậy làm phát sinh vấn đề về lựa chọn biến đại diện như đã đề cập ở trên.
(3) Phương pháp nghiên cứu: Phần này sẽ trình bày một cách chi tiết bài toán nhận dạng tác động thông qua các phương trình lượng hóa mối quan hệ giữa CSTT và sản lượng. Sau khi biết đổi phương trình không thể nhận diện được phương trình được xây dựng trên sự tác động của chính sách tiền tệ tới sản lượng hay chiều ngược lại, hay sự tác động qua lại của cả hai. Vấn đề nội sinh và thiếu sót biến trong mô hình dẫn tới ước lượng không chính xác. Vấn đề này sẽ được giải quyết bằng việc sử dụng phương pháp tường thuật để xác định cú sốc tiền tệ.
Phần này trình bày khái quát phương pháp tiếp cận tường thuật của Friedman và Schwartz (1963) trong cuốn A monetary history of the United States 1867–1960. Sử dụng phương pháp này để xác định thời điểm xảy ra cú sốc CSTT Việt Nam giai đoạn 2003 - 2016. Những cú sốc đến từ những lần thay đổi lớn trong điều hành CSTT của NHNN Việt Nam. Để làm điều này, tác giả sử dụng Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ hàng tháng, các báo cáo của NHNN, thông cáo báo chí của Chính phủ và NHNN… về điều hành CSTT.
Ngoài ra, nghiên cứu còn chứng minh CSTT tại Việt Nam không thể dự đoán được thông qua một mô hình Logit. (4) Các kết quả nghiên cứu tác động CSTT lên tăng trưởng và lạm phát: Bằng cách áp dụng hồi quy cơ bản về tăng trưởng sản lượng công nghiệp và lạm phát với biến giả D (đại diện cho CSTT), phần này sẽ nghiên cứu tác động của 123doc 6 một sự thay đổi CSTT sang thắt chặt lên cả hai biến tăng trưởng và lạm phát. Sau đó, bằng cách áp dụng mô hình VAR 2 biến, và một số hệ thống đo lường khác như là cách kiểm tra tính vững của nghiên cứu sẽ làm rõ tác động cú sốc chính sách tiền tệ lên cả sản lượng lẫn lạm phát. (5) Kết luận: Chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam có tác động lớn tới tăng trưởng kinh tế.
123doc 7 Chương 2 – KHUNG LÝ THUYẾT VỀ CSTT VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Khung lý thuyết về chính sách tiền tệ 2. Khái niệm Chính sách tiền tệ là hệ thống các biện pháp, các công cụ do ngân hàng trung ương thực hiện để điều tiết cung tiền, nhằm thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ, thường là hướng tới một lãi suất mong muốn để đạt được những mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giá, đạt được trạng thái lao động toàn dụng. Các công cụ của chính sách tiền tệ Để thực hiện các mục tiêu của mình, ngân hàng trung ương thường sử dụng ba công cụ chính để làm thay đổi cung tiền và lãi suất, bao gồm: tiến hành nghiệp vụ thị trường mở, thay đổi chính sách chiết khấu và tỷ lệ dự trữ bắt buộc.