CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Công tác BHLĐ ở Việt nam.1 Quá trình phát triển công tác BHLĐ ở Nước ta. Ơ nước ta, công tác BHLĐ được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Ngay trong lúc cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào giai đaọn gay go, sắc lệnh số 29SL được ban hành vào tháng 8 năm 1947, đây là sắc lệnh đầu tiên của nước Việt nam dân chủ cộng hoà, trong đó có nhiều điều khoản về BHLĐ: điều 133 quy định “Các xí nghiệp phải có đủ phương tiện để bảo an và giữ gìn sức khỏe cho công nhân…”, điều 140 quy định “những nơi làm việc phải rộng rãi, thoáng khí và phải có ánh sáng mặt trời. Những nơi làm việc phải cách hẳn với nhà tiêu, những cống rãnh để tránh mùi hôi thối”.
Hội đồng chính phủ đã ban hành 2 điều lệ “Điều lệ tạm thời về BHLĐ” vào ngày 18/12/1964 và điều lệ giữ gìn vệ sinh và bảo vệ sức khoẻ theo tin thần của nghị quyết đại hội lần thứ 3 của Đảng Lao Động Việt nam. Hai điều lệ này có các nội dung chủ yếu như: Chế độ trang bị phòng hộ lao động, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật, chế độ đối với nữ công viên chức và thiếu niên, thời giờ làm việc và nghỉ ngơi… Đến ngày 01/01/1995, Bộ Luật Lao Động nước ta chính thức có hiệu lực, các chương trong Bộ Luật có nội dung chính như sau: về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động, những qui định riêng đối với lao động nữ, thanh tra Nhà nước về an toàn lao động, xử phạt vi phạm về an toàn lao động…Bộ Luật Lao Động được ban hành là các văn bản chủ yếu về BHLĐ, nó cũng đánh dấu một bước ngoặc về sự phát triển công tác an toàn và vệ sinh lao động ở nước ta. Tiếp theo sau Bộ Luật Lao Động là Nghị định 06/CP do Thủ tướng chính phủ ban hành vào ngày 20/01/1995 để qui định một số điều của Bộ Luật Lao Động về an toàn vệ sinh lao động và Thông tư số 07/TT – TLĐ ngày 06/02/1995 được ban hành do Tổng Liên Đoàn Việt nam. Ngoài ra còn có một số văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến BHLĐ.
Qua sự quan tâm của Đảng, Nhà Nước và hàng loạt điều lệ, nghị định, thông tư, các văn bản pháp luật có liên quan tới BHLĐ được ban hành đã chứng tỏ được các cấp lãnh đạo đã hiểu rõ được tầm quan trọng của BHLĐ và cũng chứng tỏ được BHLĐ là một lĩnh vực rộng lớn, liên quan tới mọi ngành, mọi lĩnh vực và luôn được đề cập đến trong tất cả các hoạt động sản xuất, dịch vụ, công tác xã hội… Tuy nhiên các cấp lãnh đạo vẫn chưa quan tâm đúng mức đến công tác BHLĐ. Mặc khác trong hoạt động kinh doanh sản xuất vẫn luôn tồn tại việc xem trọng lợi nhuận là chính, vì thế NSDLĐ vẫn chưa chú trọng về vấn đề BHLĐ cho người lao động. Cho nên thực tế hiện nay công nhân luôn làm việc trong môi trường khắc nghiệt, tai nạn lao động không ngừng xảy ra, các bệnh nghề nghiệp luôn rình rập, ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động, năng suất lao động, hiệu quả lao động.2 Một số vấn đề còn tồn tại trong công tác BHLĐ. Công tác BHLĐ đã và đang được Đảng và nhà nước quan tâm và cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể qua hơn 30 năm hoạt động.
Tuy nhiên công tác BHLĐ ở Việt nam còn một số khuyết điểm và chưa hoà nhập kịp thời với tốc độ phát triển của xã hội ngày nay. Vì thế công tác BHLĐ vẫn còn tồn tại những khuyết điểm không thể tránh khỏi.1Vệ sinh lao động. Trong những năm gần đây, nhiều ngành nghề đã đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị để nâng cao năng suất lao động, góp phần cải thiện điều kiện lao động. Tuy nhiên vẫn còn nhiều ngành sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu, thiết bị, máy móc, nhà xưởng cũ, xuống cấp, sử dụng nhiều nguyên liệu ở dạng thô, các chất thải phần lớn chưa được xử lý.
Tuy trong quá trình chuyển giao công nghệ, cơ giới hoá, tự động hoá làm giảm đi các công việc thủ công, làm giảm bớt gánh nặng về thể lực, nhưng lại gia tăng gánh nặng về tâm lý do cường độ lao động, NLĐ phụ thuộc nhiều vào máy móc, từ đó xuất hiện các yếu tố tác hại nghề nghiệp mới dẫn đến nguy cơ gây ra các bệnh nghề nghiệp mới. Môi trường lao động cũng là yếu tố ảnh hưởng rất nhiều đến NLĐ, nó vừa trực tiếp gây ra TNLĐ, giảm sức khoẻ NLĐ, vừa là nguy cơ tiềm ẩn của các BNN. Một cuộc điều tra trên phạm vi toàn quốc gần đây của viện dân số và các vấn đề xã hội tại 1.017 cơ sở sản xuất vừa và nhỏ: có trên 78% các phân xưởng sản xuất bị ô nhiễm nhiệt – ẩm. Môi trường ô nhiễm dẫn đến sức khỏe của người lao động không đảm bảo.
Nhiệt độ không khí trong các cơ sở sản xuất này thường cao hơn bên ngoài từ 1,5 – 60C. Độ ẩm trong không khí luôn cao hơn 78%, đặc biệt là khu vực chế biến thủy sản, thực phẩm. Cuộc điều tra cũng phân tích: các phân xưởng bị ô nhiễm bụi trong các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ của ngành giấy, phân bón, hóa chất, khai khoáng, luyện kim, cơ khí, vật liệu xây dựng đều có tỉ lệ nhiễm bụi cao trên 20%. Nguy hiểm và khó nhận biết nhất đối với người lao động là ô nhiễm không khí.
Tại các môi trường sản xuất hoá chất, kim loại, thuộc da…đều tồn tại 4 loại khí độc hại là SO2, CO, NO, CO2. Kết quả điều tra ở hơn 200 phân xưởng cũng cho thấy, tỉ lệ các phân xưởng bị hơi khí độc trung bình vào khoảng trên 17%, trong đó chỉ số ô nhiễm môi trường từ các khí CO, CO2 là lớn nhất.2 Tai nạn lao động. Bảng :Thống kê số người bị TNLĐ trong các năm Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 TNLĐ 9 số người 1104 1665 2272 2788 2813 3530 3748 4521 4089 6186 TNLĐ Theo thống kê các báo cáo TNLĐ hàng năm của Bộ LĐ-TB&XH (như bảng trên) cho thấy hàng năm số người bị TNLĐ đều tăng lên, điều này có thể lý giải như sau: có thể do NSDLĐ ở các doanh nghiệp, công ty, xí nghiệp… ngày càng có ý thức về công tác BHLĐ nên việc khai báo TNLĐ năm sau chính xác hơn và tốt hơn năm trước. Mặc dù như thế những con số thống kê được nêu như trên chưa thật sự đầy đủ và chính xác, theo thống kê Bộ LĐ-TB&XH trong giai đoạn 2000 – 2004 chỉ có 10% tổng số doanh nghiệp trong cả nước thực hiện báo cáo về TNLĐ, vì thế khi tính bình quân số người bị TNLĐ trong cả nước thì con số thống kê này thật sự chưa chính xác.
Theo thống kê của Ban thanh tra trung bình mỗi năm toàn quốc xảy ra khoảng 3.500 vụ TNLĐ, làm 450 người chết và hàng nghìn người bị thương. Riêng TPHCM năm 2003 có 668 vụ TNLĐ làm 62 người chết, 125 người bị thương nặng; năm 2004, có 791 vụ, làm 61 người chết và 108 người bị thương nặng. Số vụ TNLĐ do máy móc, thiết bị cán, kẹp, cắt, va đập…luôn chiếm tỉ lệ cao nhất. Tình hình TNLĐ ở các khu vực sản xuất vừa và nhỏ.
Theo điều tra thống kê tại 1.017 khu vực sản xuất vừa và nhỏ trên cả nước thì vấn đề TNLĐ cũng là vấn đề nóng bỏng.1017 cơ sở sản xuất vừa và nhỏ trong diện điều tra, trong 5 năm vừa qua đã xảy ra 3.166 vụ TNLĐ, trong đó 135 vụ TNLĐ gây chết người, làm cho 146 người chết, 550 người bị tàn tật. Nguyên nhân gây TNLĐ ở các khu vực sản xuất vừa và nhỏ. Đều có thể thấy ngay là: hầu hết đầu tư công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều củ, nát, lạc hậu, dây truyền sản xuất chuyển nhượng hoặc mua lại, dẫn đến chất lượng sản phẩm và môi trường sản xuất kém. Trong khi đó, tốc độ cải tiến công nghệ ở khu vực sản xuất này lại chậm, quá trình đổi mới không đồng đều.
Công tác quản lý sản xuất cũng được xem là nguyên nhân cơ bản của các TNLĐ và ô nhiễm môi trường. Nghiên cứu của Viện khoa học BHLĐ đưa ra kết luận: các cơ sở sản xuất đã không tuân thủ các quy định pháp luật về An Toàn Vệ Sinh Lao Động, thiếu các biện pháp an toàn, mặc bằng sản xuất chật hẹp, công nghệ chấp vá, không tổ chức huấn luyện kiến thức BHLĐ đầy đủ cho người lao động. Ngoài ra việc môi trường độc hại, tai nạn còn bắt nguồn từ chính người lao động. Đó là ý thức kỷ luật lao động kém.
Mặc khác, người lao động trong các khu sản xuất vừa và nhỏ, phần lớn xuất thân từ nông nghiệp, chưa quen với môi trường công nghiệp, ý thức về quyền lợi thấp. Phần lớn lao động trong khu vực này còn trẻ, chưa có thâm niên công tác, nhiều người còn bở ngở, chưa ý thức một cách đầy đủ những quyền lợi mình được hưởng và nghĩa vụ mình phải làm trong các hợp đồng lao động. Vì vậy ý thức đấu tranh và bảo vệ những nhu cầu phúc lợi xã hội kém. Đa số họ chấp nhận và hài lòng với điều kiện làm việc mà mình đã chọn.3 Tình hình sức khỏe và Bệnh nghề nghiệp.
10 Điều kiện lao động, làm việc, môi trường lao động bị ô nhiễm tất yếu dẫn tới các hậu quả đáng lo ngại. Trong môi trường làm việc bị ô nhiễm NLĐ phải làm việc và tiếp xúc với nhiều yếu tố nguy hiểm, độc hại như: nóng,bụi, ồn, hơi khí độc, ánh sáng, rung…làm giảm sức khỏe của NLĐ, gây ra nhiều bện tật và bệnh nghề nghiệp. Theo kết quả nghiên cứu của TS. Nguyễn Thị Toán – Viện YHLĐ và VSMT thì công nhân có tỉ lệ bệnh về tai, mũi, họng chiếm 66,7%; bệnh về mắt chiếm 18,9%; bệnh về tiêu hoá chiếm 19,9%, bệnh về đường hô hấp chiếm 10,1%; bệnh ngoài da chiếm 11,2%.
NLĐ mắc phải các bệnh nêu trên là do trong quá trình làm việc với môi trường ô nhiễm họ không được trang bị đầy đủ các phương tiện bảo vệ các nhân hoặc do họ lơ là trong việc tự trang bị cho mình, từ đó gây ra nhiều bệnh tật và một số bệnh mãng tính. Đối với bệnh nghề nghiệp, NLĐ mắc phải các BNN là do quá trình tiếp xúc lâu dài nhiều yếu tố độc hại, nguy hiểm, các BNN chiếm tỉ lệ cao nhất là Bệnh bụi phổi chiếm 14%, bệnh điếc nghề nghiệp chiếm 12,28%.