Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đấu tranh phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ trọng tâm nhằm bảo vệ lợi ích công cộng và trật tự xã hội. Trong bối cảnh phương thức và thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, thực tiễn tố tụng xuất hiện nhiều vụ án phức tạp: người đang chấp hành án lại thực hiện hành vi phạm tội mới, hoặc một cá nhân thực hiện nhiều hành vi phạm tội ở các thời điểm khác nhau nhưng chưa bị phát hiện để đưa ra xét xử cùng lúc (đặc biệt trong các vụ án tham ô, tham nhũng). Khi các bản án hình sự khác nhau được tuyên đối với cùng một người, Tòa án phải áp dụng chế định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án để xác định hình phạt chung.

Mặc dù chế định này đã được ghi nhận tại Điều 56 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), kỹ thuật lập pháp và thực tiễn xét xử vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Tình trạng không đồng nhất trong áp dụng hình phạt, sự lúng túng trong xác định thời điểm chấp hành án, cũng như nguy cơ tổng hợp trùng lặp bản án đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu toàn diện cả về lý luận lẫn thực tiễn.

Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu và phân tích các quy định của pháp luật về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án trong BLHS năm 2015 từ góc độ lý luận và thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân các cấp; xác định các vướng mắc, bất cập còn tồn tại, từ đó đề xuất giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả xét xử, bảo đảm nguyên tắc đúng người, đúng tội.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tìm hiểu khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc và ý nghĩa lý luận về quyết định hình phạt và tổng hợp hình phạt trong luật hình sự Việt Nam.
  2. Nghiên cứu quá trình phát triển của quy định tổng hợp hình phạt nhiều bản án qua các thời kỳ lập pháp tại Việt Nam (trước BLHS, giai đoạn BLHS 1985, BLHS 1999 và BLHS 2015); so sánh, đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự một số quốc gia.
  3. Phân tích thực tiễn áp dụng Điều 56 BLHS năm 2015 qua các bản án hình sự cụ thể, chỉ ra những vướng mắc, sai phạm trong thi hành và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án trong BLHS năm 2015, các văn bản quy phạm pháp luật hình sự tiền nhiệm tại Việt Nam, quy định pháp luật hình sự của một số quốc gia, cùng các bản án hình sự sơ thẩm, phúc thẩm và quyết định giám đốc thẩm trong thực tiễn.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Hệ thống pháp luật và thực tiễn xét xử tại Việt Nam, có mở rộng so sánh với pháp luật Liên bang Nga, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Thụy Điển.
    • Thời gian: Lịch sử lập pháp từ giai đoạn trước khi có BLHS đến nay, trong đó trọng tâm là giai đoạn thi hành BLHS năm 2015 (từ năm 2016 đến năm 2024).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận dựa trên hệ thống cơ sở lý luận và pháp lý vững chắc của khoa học luật hình sự:

  • Văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Hiến pháp năm 2013 (Điều 102), BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (các Điều 30, 32, 38, 55, 56, 65, 103, 104), BLHS năm 1985 (Điều 42, 43), BLHS năm 1999 (Điều 50, 51), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Điều 260, 268), Thông tư liên tịch số 02/TT-LN ngày 10/08/1991 của TAND Tối cao - VKSND Tối cao, Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao.
  • Văn bản pháp luật quốc tế tham chiếu: Luật Hình sự Liên bang Nga (Điều 70), Luật Hình sự nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (các Điều 69, 70, 71), Bộ luật Hoa Kỳ (Title 18 U.S. Code, Mục 3584, Mục 3553(a)), Bộ luật Hình sự Thụy Điển (Chương 34).
  • Tài liệu khoa học chuyên ngành: Kế thừa các công trình lý luận về quyết định hình phạt và tổng hợp hình phạt của các tác giả Đào Trí Úc, Võ Khánh Vinh, Nguyễn Ngọc Hòa, Dương Tuyết Miên, Uông Chu Lưu, Đinh Văn Quế, Phạm Hồng Hải, Trần Văn Đô, Phạm Văn Thiệu, Đỗ Văn Chỉnh, Đinh Thị Chiến, Phạm Mạnh Hùng, Phạm Minh Tuyên, Vũ Tuấn Đức, Hà Hồng Sơn; các luận văn thạc sĩ của Trần Văn Sơn (1996), Hoàng Chí Kiên (2004), Nguyễn Hữu Sáng (2015), Nguyễn Văn Công (2015), Phạm Thị Thanh Hoan (2015).

Phương pháp nghiên cứu: Tác giả vận dụng phương pháp luận triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm; phương pháp lịch sử lập pháp; phương pháp luật học so sánh; phương pháp nghiên cứu tình huống án thực tế (case study).

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu nghiên cứu bao gồm các văn bản pháp lý chính thống, các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành (Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Luật học) và hệ thống bản án hình sự sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm được trích xuất từ Cổng thông tin công bố bản án của Tòa án nhân dân tối cao.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Các vấn đề chung về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án trong Luật Hình sự

Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận toàn diện về quyết định hình phạt và tổng hợp hình phạt, phân tích lịch sử lập pháp Việt Nam cùng kinh nghiệm quốc tế:

  1. Khái niệm và ý nghĩa: Quyết định hình phạt là hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án nhằm lựa chọn loại và mức hình phạt (hoặc biện pháp tư pháp) đối với người phạm tội. Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án là việc Tòa án xác định một hình phạt chung cho người bị tuyên nhiều hình phạt trong các bản án khác nhau mà các bản án đó vẫn còn hiệu lực pháp luật. Ba nguyên tắc cơ bản được áp dụng gồm: nguyên tắc thu hút hình phạt, nguyên tắc cộng một phần và nguyên tắc cộng toàn bộ. Chế định này bảo đảm sự công bằng, tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội và tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan thi hành án.
  2. Lịch sử lập pháp tại Việt Nam:
    • Giai đoạn trước BLHS 1985: Quy định sơ khai qua Báo cáo tổng kết công tác TAND Tối cao năm 1964 và Công văn số 612/NCPL ngày 14/09/1973, phân biệt hai tình huống phạm tội trước khi có án và phạm tội mới trong thời gian thi hành án.
    • Giai đoạn BLHS 1985: Pháp điển hóa lần đầu tại Điều 42; được hướng dẫn bởi Nghị quyết 02/HĐTP (1986); bổ sung Khoản 3 qua các lần sửa đổi năm 1989 và 1991 về thẩm quyền tổng hợp nhiều bản án chưa được gộp.
    • Giai đoạn BLHS 1999: Quy định tại Điều 51, chuẩn hóa viện dẫn sang Điều 50 và trao quyền ra quyết định tổng hợp tại Khoản 3 cho Chánh án Tòa án.
  3. Pháp luật quốc tế về tổng hợp hình phạt nhiều bản án:
Quốc gia Căn cứ pháp lý Đặc điểm nguyên tắc áp dụng
Liên bang Nga Điều 70 (Phần 3, Chương 10) Cộng một phần hoặc toàn bộ phần hình phạt chưa chấp hành vào bản án mới; mức phạt tù có thời hạn chung tối đa không quá 30 năm; hình phạt chung phải lớn hơn hình phạt đã tuyên của tội mới hoặc phần án chưa thi hành.
Trung Quốc Các Điều 69, 70, 71 (Chương 4) Phân định rõ hai trường hợp: phát hiện tội phạm thực hiện trước khi có bản án (xác định hình phạt chung trên cơ sở cả hai bản án, trừ thời gian đã thi hành) và phạm tội mới khi đang chấp hành án (tổng hợp phần chưa chấp hành với án mới).
Hoa Kỳ Title 18 U.S. Code (Mục 3584, Mục 3553(a)) Tòa án có quyền quyết định áp dụng hình phạt đồng thời (concurrent) hoặc liên tiếp (consecutive); hình phạt tuyên khác thời điểm mặc định là thi hành liên tiếp trừ khi Tòa án có phán quyết khác.
Thụy Điển Chương 34 Bộ luật Hình sự Không phân định cứng nhắc thời điểm phạm tội; Tòa án có quyền giảm nhẹ, gộp tội mới vào hình phạt đang áp dụng nếu tính chất tội phạm mới là không đáng kể, bảo đảm hình phạt chung không vượt quá mức vốn sẽ nhận nếu được xét xử cùng lúc.

Chương 2: Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng quy định pháp luật

Chương 2 đi sâu mổ xẻ nội dung Điều 56 BLHS năm 2015, đánh giá thực tiễn xét xử qua các bản án điển hình, chỉ ra bất cập và đề xuất định hướng hoàn thiện:

  1. Nội dung quy định tại Điều 56 BLHS 2015:
    • Khoản 1 (Xét xử tội phạm thực hiện trước khi có bản án đang chấp hành): Tòa án tuyên hình phạt cho tội mới, tổng hợp với bản án trước theo Điều 55 (mức trần tù có thời hạn là 30 năm, cải tạo không giam giữ là 03 năm), sau đó trừ thời gian đã chấp hành của bản án trước. Trường hợp bản án trước là cải tạo không giam giữ thì quy đổi sang phạt tù theo tỷ lệ 3 ngày cải tạo bằng 1 ngày tù (điểm b khoản 1 Điều 55).
    • Khoản 2 (Phạm tội mới trong khi đang chấp hành bản án): Tòa án tuyên hình phạt tội mới, cộng với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi tổng hợp theo Điều 55. Hậu quả pháp lý nghiêm khắc hơn Khoản 1 do thời gian ngồi tù thực tế của bị cáo có thể vượt quá 30 năm (thời gian đã chấp hành trước đó không được khấu trừ vào bản án mới).
    • Khoản 3 (Nhiều bản án đã có hiệu lực nhưng chưa được tổng hợp): Thẩm quyền thuộc về Chánh án Tòa án ra quyết định tổng hợp theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2.
  2. Thực tiễn áp dụng qua các bản án tiêu biểu:
    • Áp dụng Khoản 1: Bản án số 17/2019/HS-ST (TAND thị xã Giá Rai, Bạc Liêu) xử phạt Ly Văn Ch 02 năm 06 tháng tù, tổng hợp với bản án 09 tháng tù trước đó, trừ 02 tháng đã chấp hành, buộc thi hành 03 năm 01 tháng tù; Bản án số 12/2019/HS-ST (TAND huyện N, Kon Tum) đối với Phan Thanh T; Bản án số 16/2019/HS-ST (TAND huyện M'Đrắk, Đắk Lắk) đối với Đoàn Văn T.
    • Áp dụng Khoản 2: Bản án số 04/2024/HS-ST (TAND tỉnh Hà Giang) đối với Phan Văn T phạm tội mới khi đang được tạm đình chỉ chữa bệnh, tổng hợp 17 năm tù mới với 18 năm 08 tháng 09 ngày còn lại thành 30 năm tù; Bản án số 03/2024/HS-ST (TAND huyện Thăng Bình, Quảng Nam) đối với Dương Phạm Minh M quy đổi 07 tháng 12 ngày cải tạo không giam giữ còn lại thành 02 tháng 17 ngày tù để cộng với 06 tháng tù của tội mới; Bản án số 09/2019/HS-ST (TAND huyện D, Tây Ninh) đối với Nguyễn Văn T; Bản án số 27/2024/HS-ST (TAND huyện Phù Yên, Sơn La) đối với Lê Xuân K phạm tội trong trại giam.
    • Áp dụng Khoản 3: Bản án số 06/2022/HS-ST (TAND tỉnh Đắk Nông) đối với Otujieme Frank I (Hội đồng xét xử tách ra để Chánh án quyết định sau do chưa đủ hồ sơ các bản án khác tỉnh); Bản án số 08/2020/HS-ST (TAND TP Cam Ranh, Khánh Hòa) đối với Trần Thanh L; Bản án số 207/2020/HS-ST (TAND TP Cà Mau) đối với Trương Văn Th.
  3. Vướng mắc, bất cập và sai phạm thực tế:
    • Chưa định nghĩa rõ ràng thời điểm "đang phải chấp hành một bản án" (tính từ khi tuyên án hay từ khi bản án có hiệu lực pháp luật), tạo khoảng trống pháp lý khi bản án đang trong giai đoạn kháng cáo, kháng nghị.
    • Thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết Khoản 3 Điều 56 (văn bản gần nhất là Thông tư liên tịch số 02/TT-LN năm 1991 đã lỗi thời; chưa chuẩn hóa biểu mẫu quyết định tổng hợp hình phạt của Chánh án).
    • Tòa án cấp huyện gặp vướng mắc về thẩm quyền khi hình phạt tổng hợp chung vượt quá giới hạn thẩm quyền xét xử của cấp huyện (theo Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015).
    • Sai phạm tổng hợp trùng lặp bản án: Bản án số 177/2019/HS-ST của TAND TP Lạng Sơn đã được tổng hợp tại Vĩnh Phúc, nhưng sau đó tiếp tục bị tổng hợp trùng tại Bản án 01/2020/HS-ST (TAND thị xã ST) và Bản án 03/2020/HS-ST (TAND huyện TB), buộc Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại Hà Nội phải ra quyết định giám đốc thẩm hủy phần tổng hợp hình phạt ngày 07/05/2020.
    • Sai phạm tổng hợp bản án đã bị hủy: Trường hợp Bản án phúc thẩm số 259/HS-PT của TAND cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận tổng hợp Bản án số 241/2019/HS-ST của TAND TP Nha Trang vào hình phạt chung của bị cáo Nguyễn Trần Quang V, dù bản án 241/2019/HS-ST đã bị hủy điều tra lại từ ngày 15/05/2020.
  4. Nguyên nhân và giải pháp đề xuất:
    • Nguyên nhân: Quy định pháp luật còn thiếu hướng dẫn áp dụng thống nhất; sự hạn chế về trình độ, năng lực và trách nhiệm nghề nghiệp của một bộ phận cán bộ tư pháp; khó khăn trong liên thông tra cứu tiền án, tiền sự và lý lịch tư pháp.
    • Giải pháp: Ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn chi tiết Điều 56 BLHS năm 2015 thay thế Thông tư liên tịch 02/TT-LN/1991; quy định rõ biểu mẫu và thẩm quyền tổng hợp hình phạt của Chánh án; phân định ranh giới thẩm quyền xét xử và thẩm quyền tổng hợp hình phạt; nâng cao trình độ chuyên môn, trách nhiệm của đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên; hoàn thiện cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp số hóa dùng chung.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở pháp lý và thực tiễn: Khóa luận làm rõ cơ chế vận hành của Điều 56 kết hợp Điều 55 BLHS năm 2015, giải thích rõ phương thức tính toán hình phạt tù có thời hạn tối đa 30 năm, tỷ lệ chuyển đổi hình phạt cải tạo không giam giữ (3:1), và sự phân hóa trách nhiệm hình sự giữa trường hợp phạm tội trước khi có bản án (Khoản 1) và phạm tội mới trong khi đang chấp hành án (Khoản 2).
  • Phát hiện các sai phạm tố tụng nghiêm trọng: Khóa luận chỉ ra thực trạng Tòa án tổng hợp một bản án nhiều lần (vụ án Trần Thế A và Nguyễn Nam H tại Hà Nội, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc) hoặc tổng hợp bản án đã bị cấp phúc thẩm hủy để điều tra lại (vụ án Nguyễn Trần Quang V tại Khánh Hòa), dẫn đến việc phải can thiệp bằng thủ tục giám đốc thẩm.
  • Đề xuất giải pháp lập pháp và áp dụng pháp luật: Kiến nghị sửa đổi, ban hành nghị quyết hướng dẫn của TAND Tối cao nhằm giải quyết khoảng trống đối với trường hợp bị cáo phạm tội trong giai đoạn chờ phúc thẩm; làm rõ thẩm quyền tổng hợp hình phạt của Tòa án cấp huyện khi mức án chung vượt quá thẩm quyền xét xử; chuẩn hóa hình thức văn bản quyết định tổng hợp hình phạt theo Khoản 3 Điều 56.
  • Đóng góp học thuật: Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên sâu, cập nhật thực tiễn xét xử giai đoạn 2016 - 2024 sau khi BLHS năm 2015 có hiệu lực, bổ sung nguồn tài liệu phân tích thực chứng kết hợp so sánh luật học đối với chế định tổng hợp hình phạt nhiều bản án.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo Điều 56 BLHS năm 2015 đối với người đã thành niên; chưa đi sâu nghiên cứu các quy định đặc thù về tổng hợp hình phạt liên quan đến án treo (Khoản 5 Điều 65) hoặc người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội (Điều 103, 104 BLHS năm 2015).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng đánh giá việc tổng hợp hình phạt có liên quan đến án treo và tha tù trước thời hạn có điều kiện; nghiên cứu tác động của việc số hóa dữ liệu án tích và kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đến hiệu quả quản lý, tổng hợp bản án của hệ thống Tòa án nhân dân.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị ứng dụng và tham khảo thiết thực:

  • Đối với sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự: Tài liệu cung cấp bức tranh hoàn chỉnh về lịch sử lập pháp, phương pháp phân tích quy phạm và kỹ năng đối chiếu các quy định pháp luật nước ngoài (Nga, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Thụy Điển).
  • Đối với Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư: Cung cấp hướng dẫn chi tiết về các bước tính toán khấu trừ thời gian tạm giam, tạm giữ, tỷ lệ chuyển đổi hình phạt cải tạo không giam giữ sang phạt tù, cùng các tình huống cảnh báo sai sót thực tế để phòng ngừa vi phạm tố tụng trong quá trình xét xử và thi hành án hình sự.

Câu hỏi thường gặp

1. Điểm khác biệt cơ bản về hậu quả pháp lý giữa Khoản 1 và Khoản 2 Điều 56 BLHS 2015 là gì? Tại Khoản 1 (bị xét xử về tội phạm thực hiện trước khi có bản án), hình phạt của bản án cũ và mới được gộp chung rồi trừ đi thời gian đã chấp hành, do đó tổng thời gian chấp hành án phạt tù thực tế không vượt quá 30 năm. Ngược lại, tại Khoản 2 (phạm tội mới trong khi đang chấp hành án), hình phạt tội mới được cộng với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án cũ, khiến tổng thời gian ngồi tù thực tế của bị cáo có thể vượt quá 30 năm (thời gian đã thụ án trước đó không được trừ vào bản án mới).

2. Quy định chuyển đổi hình phạt cải tạo không giam giữ sang hình phạt tù khi tổng hợp hình phạt được tính theo tỷ lệ nào? Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 55 và Điều 56 BLHS năm 2015, thời gian cải tạo không giam giữ chưa chấp hành sẽ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ 3 ngày cải tạo không giam giữ bằng 1 ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung.

3. Thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật theo Khoản 3 Điều 56 thuộc về ai? Thẩm quyền này thuộc về Chánh án Tòa án chứ không thuộc về Hội đồng xét xử. Hướng dẫn tại Mục 5 Thông tư liên tịch số 02/TT-LN ngày 10/08/1991 phân định: nếu các bản án của cùng một Tòa án thì Chánh án Tòa đó quyết định; nếu các Tòa cùng cấp thì Chánh án Tòa ra bản án sau cùng quyết định; nếu khác cấp thì Chánh án Tòa cấp cao hơn quyết định.

4. Khóa luận đã chỉ ra những sai phạm tố tụng điển hình nào trong thực tiễn áp dụng Điều 56 BLHS 2015? Khóa luận chỉ ra hai dạng sai phạm nổi cộm: (1) Tổng hợp trùng lặp một bản án tại nhiều Tòa án khác nhau (điển hình là Bản án 177/2019/HS-ST bị gộp liên tiếp tại Vĩnh Phúc, Phú Thọ và thị xã Sơn Tây); (2) Tổng hợp cả bản án sơ thẩm đã bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy để điều tra lại (điển hình tại Bản án phúc thẩm số 259/HS-PT của TAND cấp cao tại Đà Nẵng).

5. Pháp luật hình sự Hoa Kỳ quy định phương thức tổng hợp hình phạt nhiều bản án có điểm gì khác biệt so với Việt Nam? Theo Mục 3584 Title 18 Bộ luật Hoa Kỳ, Tòa án có quyền quyết định áp dụng hình phạt đồng thời (concurrent) hoặc liên tiếp (consecutive). Các bản án được tuyên ở những thời điểm khác nhau sẽ mặc định áp dụng hình phạt liên tiếp, giúp giảm tải sự phức tạp khi một trong các bản án bị kháng cáo hoặc điều tra lại.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thiệu Hà Linh là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có giá trị khoa học và thực tiễn cao về chế định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo Điều 56 BLHS năm 2015. Bằng phương pháp tiếp cận thực chứng kết hợp so sánh luật học, tác giả đã làm rõ các nguyên tắc áp dụng, vạch ra các bất cập lập pháp và sai phạm điển hình trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm. Các kiến nghị hoàn thiện văn bản hướng dẫn và nâng cao nghiệp vụ cán bộ tư pháp được đề xuất trong khóa luận góp phần bảo đảm tính nghiêm minh, thống nhất và công bằng của hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam.