Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Dẫn nhập: Trong chương này, luận án trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận làm nền tảng cho việc phân tích quy chiếu thời gian trong tiếng Việt từ góc nhìn Ngôn ngữ học tri nhận.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ở phạm vi ngoài nước 1.1 Tình hình nghiên cứu tri nhận dòng thời gian tinh thần trong các ngôn ngữ tự nhiên Cho đến nay, dòng thời gian tinh thần được nghiên cứu trên hai cấp độ: cấp độ ngôn ngữ và cấp độ tinh thần, với hai hướng: phân tích cứ liệu ngôn ngữ và phân tích thực nghiệm. Dòng thời gian chưa từng được các nhà Việt ngữ học đặt thành đối tượng nghiên cứu khi phân tích về thời gian trong tiếng Việt.2 Tình hình nghiên cứu xác lập lý thuyết khung quy chiếu thời gian Hiện còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về hệ thống KQC thời gian.1 Các quan niệm khác nhau về hệ thống khung quy chiếu thời gian Mốc quy Mốc quy chiếu Ego Mốc quy chiếu là sự Mốc quy Mốc quy chiếu tình trong chuỗi chiếu nằm chiếu ở trong Nền, có sự trường chuyển thời gian dịch hệ toạ tổng thể độ từ người Tác giả quan sát sang Nền Moore KQC dựa vào Ego KQC dựa vào trường Núñez và Ẩn dụ điểm quy chiếu Ego Ẩn dụ điểm quy chiếu Sweetser Thời gian Yu Khung con Khung con Khung Khung thời người trực chỉ người xếp thời gian gian xếp chuỗi trực chỉ chuỗi Zinken KQC nội tại KQC tương KQC nội KQC tuyệt HTĐ: Hình, đối tại đối Nền HTĐ: Hình, Khi Nền Khi Nền và Nền, Người và gốc toạ gốc toạ độ quan sát độ là một khác nhau Tenbrink KQC nội tại KQC tương KQC tuyệt đối (tình (tình huống đối huống tĩnh, động) tĩnh, động) (tình huống động) Kranjec Bộ khung thời gian trực chỉ Bộ khung thời gian nội Bộ khung tại thời gian ngoại tại Evans KQC trực chỉ KQC chuỗi KQC Thì tuyệt đối Thì tương đối ngoại tại Bender và KQC nội tại KQC tuyệt KQC tương cộng sự Biến thể trực chỉ Biến thể chuỗi nối tiếp đối đối Trong các quan niệm trên, hệ thống bao quát nhất, có khả năng phản ánh quan hệ thời gian đa dạng trong ngôn ngữ tự nhiên nhất là hệ thống do Bender và cộng sự xác lập.3 Tình hình nghiên cứu sự đồ chiếu từ khung quy chiếu không gian sang khung quy chiếu thời gian Nghiên cứu thời gian thông qua không gian có truyền thống lâu đời trong Ngôn ngữ học. Phần lớn các tác giả nghiên cứu về KQC thời gian đều có đề cập đến cơ sở không gian trong tri nhận thời gian và xác lập sự đồ chiếu giữa hai phạm trù. Một số tác giả đã dựa trên hệ thống KQC không gian để xây dựng KQC thời gian, chẳng hạn như lý thuyết bộ khung thời gian của Kranjec (2006); hệ thống KQC thời gian của Tenbrink (2011), Zinken (2010), Bender và cộng sự (2010, 2014).
Nghiên cứu sự đồ chiếu từ không gian lên thời gian còn xác lập các quan hệ thời gian qua hai hệ thống ẩn dụ có cội nguồn từ sự 3 vận động trong không gian: Ego chuyển động và Thời gian chuyển động (Lakoff và Johnson, 1980; Moore, 2011, 2014).2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ở phạm vi trong nước Ở Việt Nam, cho đến nay, vấn đề thời gian chủ yếu được nghiên cứu từ bình diện ngữ nghĩa ngữ pháp, ngữ nghĩa từ vựng hoặc từ cấu trúc ý niệm gắn với các khuynh hướng, lý thuyết là Cấu trúc luận, Chức năng luận, Lý thuyết trường nghĩa, Lý thuyết Ngữ học tạo sinh, Ngữ pháp tri nhận, Lý thuyết Ẩn dụ ý niệm. Theo đường hướng Tri nhận luận, chủ yếu các tác giả xem xét vấn đề gian trong tiếng Việt từ Lý thuyết Ẩn dụ ý niệm. Từ thập kỉ đầu của thế kỉ XXI, một số nhà Việt ngữ học đã ứng dụng Lý thuyết Ẩn dụ ý niệm vào nghiên cứu vấn đề thời gian. Trần Văn Cơ (2005) đã điểm qua vấn đề tri nhận thời gian và đưa ra các biểu thức chứng minh thời gian được tri giác như những vật có thật trong thế giới khách quan.
Nguyễn Đức Dân (2009) khẳng định người Việt có sự phân biệt sự tình ở hiện tại, tương lai và quá khứ; nhận thức về tính chu kì, tính liên tiếp, tính tức thì của sự tình; dùng trước đây để chỉ quá khứ, sau này, sau đây để chỉ tương lai. Nguyễn Văn Hán (2011) xác định các cách thức định vị thời gian trong tiếng Việt: định vị theo mức độ chuyển dịch gần – xa; định vị trước – sau/ tới - lúc này; định vị thời gian trong chuỗi sự kiện không có người quan sát tham gia; định vị thời gian TRÊN – DƯỚI theo chiều đứng của chủ thể; định vị thời gian qua từ vựng có ý nghĩa thời gian; xem xét ẩn dụ thời gian trong thơ ca tiếng Việt đối chiếu với thơ ca tiếng Anh. Trần Văn Minh (2015) chỉ ra rằng “Điểm tham chiếu khác nhau sẽ cho ra các cách biểu đạt khác nhau về mặt ngôn ngữ, đôi khi là trái ngược”, điểm tham chiếu có thể là người quan sát, cũng có thể là một “thực thể” thời gian. Trần Thị Lan Anh (2019) khảo sát và mô tả ẩn dụ ý niệm THỜI GIAN LÀ CON NGƯỜI trong tập Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi của Lưu Quang Vũ, trong đó tác giả cho thấy có sự đồ chiếu từ miền nguồn CON NGƯỜI sang miền đích THỜI GIAN.
Khi xem xét các ẩn dụ ý niệm chỉ thời gian trong tiếng Việt, các nhà nghiên cứu cũng đồng thời đề cập đến sự ý niệm hoá thời gian qua phạm trù không gian. Nguyễn Hoà (2007) cho rằng người Việt tri nhận thời gian như một vật thể đang vận động từ tương lai về hiện tại, vào quá khứ, Ego trong mô hình này là điểm quy chiếu tĩnh; người Việt cũng tri nhận thời gian như một không gian tĩnh trong đó Ego vận động từ trái qua phải, tức từ quá khứ đến hiện tại, vào tương lai. Khi điểm quy chiếu là một sự kiện thời gian thì một sự kiện thời gian nào đó được hiểu là trước hay sau một sự kiện thời gian khác. Sự định vị trong thời gian có thể được xác định theo quan hệ hình/nền.
Thời gian cũng được tri nhận là có ranh giới rõ ràng hoặc như một khối không thể phân tách, tương tự thực thể trong không gian. Nguyễn Đức Dân (2009) cho rằng trong không gian một chiều, quan hệ không gian đặc trưng bằng khoảng cách gần xa vô hướng nhưng với thời gian thì là hữu hướng; trục không gian TRƯỚC - ĐÂY - SAU tương ứng với trục thời gian QUÁ KHỨ - HIỆN TẠI - TƯƠNG LAI. Như vậy Nguyễn Đức Dân chỉ mới đề cập một trường hợp đồ chiếu từ không gian sang thời gian với TRƯỚC đồ chiếu lên QUÁ KHỨ, SAU đồ chiếu lên TƯƠNG LAI. Quan điểm của Nguyễn Đức Dân được Hữu Đạt (2011) khẳng định một lần nữa trên cứ liệu thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt.
Tuy nhiên cả hai tác giả đều chưa đi đến lý giải vì sao trước chỉ quá khứ, sau chỉ tương lai và có phải khi nào cũng vậy không. 4 Nguyễn Văn Hán (2011) cũng khẳng định vai trò của không gian trong tri nhận thời gian. Ba trong các ánh xạ được tác giả này xác lập giữa miền nguồn không gian và miền đích thời gian là: vị trí của người quan sát hiện tại, không gian phía trước người quan sát tương lai, không gian phía sau người quan sát quá khứ. Tuy nhiên đây chỉ là một trong các trường hợp đồ chiếu từ không gian lên thời gian, như sẽ được làm rõ ở chương 2 của đề tài.
Nguyễn Văn Hán cũng đã xác lập các ánh xạ từ không gian thực sang thời gian thực ở trường hợp quan hệ chuỗi, theo đó có thể rút ra được phía trước được ánh xạ sang quá khứ còn phía sau được ánh xạ sang tương lai. Các ánh xạ này đưa ra một thực tế khác với kết luận về 3 ánh xạ ở trên. Từ các văn liệu đã có chúng tôi nhận thấy: việc nhận thức rõ tầm quan trọng của mốc quy chiếu, xem xét mối quan hệ giữa các thành tố tham gia vào hoạt động quy chiếu, tách bạch chúng thành các trường hợp cụ thể sẽ giúp bổ khuyết những khoảng trống trong nghiên cứu quy chiếu, định vị thời gian trong tiếng Việt. Các kết quả nghiên cứu trên là căn nền đồng thời là gợi dẫn để luận án phân tích “Quy chiếu thời gian trong tiếng Việt từ góc nhìn Ngôn ngữ học tri nhận”.1 Các vấn đề lý thuyết về thời gian 1.1 Các biến thể của ý niệm thời gian: Theo Galton (2011), có ba biến thể của ý niệm thời gian là thời gian tuyến tính, thời gian tuần hoàn và thời gian toả tia.2 Các thuộc tính của thời gian: Theo phân tích Galton (2011), thời gian có 4 thuộc tính: tính mở rộng (extension), tính tuyến tính (linearity), tính định hướng (directionality) và tính thời khắc (transience).3 Phối cảnh thời gian: Truyền thống nghiên cứu thời gian theo đường hướng Ngữ học tri nhận thường đề cập hai cách phối cảnh: 1.
Phối cảnh Ego chuyển động: người quan sát di chuyển tiến tới các sự tình trong tương lai rồi bỏ chúng lại phía sau, thời gian tĩnh trạng; 2. Phối cảnh Thời gian chuyển động: người quan sát đứng yên còn thời gian chuyển động về phía Ego, các sự tình thuộc tương lai tiến đến Ego và đi vào quá khứ.4 Các mối quan hệ thời gian: Vyvyan Evans (2013) cho rằng mỗi KQC thời gian làm phát sinh một mối quan hệ thời gian khác biệt. Có ba loại quan hệ thời gian được xác lập là quan hệ tương lai/quá khứ, quan hệ sớm hơn/muộn hơn và ma trận thời gian.5 Mũi tên thời gian: Trong Ngôn ngữ học, khái niệm mũi tên thời gian là cách nói mang tính ẩn dụ để chỉ tính bất đối xứng giữa quá khứ và tương lai của thời gian, theo đó thời gian được hình dung là vận động từ quá khứ đến tương lai mà không có chiều ngược lại. Mũi tên thời gian do vậy luôn chỉ về tương lai.6 Dòng thời gian tinh thần: Khái niệm dòng thời gian tinh thần (mental timeline) được dùng để chỉ nhận thức mang tính không gian hoá của con người về thực thể thời gian với tư cách là một phạm trù trừu tượng (Ulrich & Maienborn, 2010).
Dòng thời gian trải dài trên một trục không gian, chỉ có một hướng và kéo dài đến vô tận (Bender & Beller, 2014). Nó tồn tại như một trường tổng thể độc lập với vai trò của người quan sát.