CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ðỀ CHUNG VỀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY ðỊNH VỀ KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ RỪNG 1. Lịch sử lập pháp hình sự về tội vi phạm các quy ñịnh về khai thác và bảo vệ rừng Mỗi loại tội phạm ñều có lịch sử hình thành và phát triển, giai ñoạn sau là sự kế thừa và phát triển của giai ñoạn trước và tội phạm vi phạm các quy ñịnh về khai thác và bảo vệ rừng cũng trải qua các quá trình hình thành và phát triển của nó. Việc ñiều chỉnh những quan hệ xã hội liên quan ñến lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng bằng chế tài hình sự ñược hình thành rất sớm trong các văn bản pháp luật do Nhà nước ta ban hành và ñược phát triển qua từng thời kỳ. Ngày 02 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ñọc bản Tuyên ngôn ñộc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Thời kì này, chính quyền non trẻ mới ra ñời gặp vô vàn khó khăn, thử thách bởi nền kinh tế yếu kém, cơ sở vật chất bị chiến tranh tàn phá nặng nề, văn hóa, xã hội nghèo nàn, tài chính cạn kiệt, tình hình chính trị phức tạp, thù trong giặc ngoài rối ren. Nhà nước ta chưa ñủ ñiều kiện xây dựng ngay ñược một hệ thống pháp luật hình sự hoàn chỉnh ñể ñiều chỉnh các quan hệ xã hội cần thiết. Tuy ñứng trước tình hình thực tế ñó, nhất là phải tập trung cho cuộc kháng chiến chống Pháp và xây dựng chính quyền mới, nhưng Nhà nước ta ñã ý thức ñược giá trị nhiều mặt của rừng nên cũng ñã sớm ban hành một văn bản pháp luật quan trọng, ñó là Thông tư số 1303 BCN/VP ngày 28 tháng 6 năm 1946 của Liên bộ Nội vụ và Canh nông ñiều chỉnh những hành vi xâm hại ñến rừng. Thông tư nêu rõ: Sẽ truy tố và trừng phạt ñối với những hành vi sau: 1) những ai chặt cây hay lấy bất cứ sản vật gì trong rừng mà không có giấy phép của Sở Lâm chính.; 2) những ai, dù có giấy phép mà chặt những cây không ñúng phân tấc ñã ñịnh; 3) những ai chặt cây cấm; 4) những ai làm than, củi không có giấy phép hay có mà trốn tránh không trả tiền bán khoán; 7 5) những ai mang lâm sản ñi mà không có giấy má chứng minh hẳn hoi; 6) những ai khai thác nhựa cây khi cây chưa ñủ kích thước ñã ñịnh, dù họ có giấy phép khai thác (cho khai thác cây ñủ kích thước); 7) những ai ñặt những doanh nghiệp hay chế tạo lâm sản (lò than, vôi, gạch, xưởng củi…) trong rừng hay cách rừng từ hai cây số trở lại mà không có giấy phép; 8) những ai ñốt nương không có giấy phép hay những miền mà tập tục ấy bị cấm ngặt…; 9) những ai ñốt rừng hay gây những vụ cháy rừng.
Những tội phạm (chính phạm và tòng phạm) sẽ do Nha Lâm chính làm biên bản ñưa ra tòa án, và sẽ bị phạt tiền, phạt tù…(5). Dù chỉ mang tính chất sơ khai nhưng Thông tư 1303 BCN/VP ñã quy ñịnh việc xử lý hình sự ñối với nhiều loại hành vi gây thiệt hại cho rừng, trong ñó có hành vi khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép. ðiều này thể hiện sự nhận thức ñối với việc bảo vệ tài nguyên rừng, một vấn ñề cấp thiết trong mọi thời kỳ và luôn ñược sự quan tâm của Nhà nước ta. ðây chính là cơ sở nền móng ñể tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy ñịnh pháp luật ñiều chỉnh những quan hệ xã hội trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng.
Sau cuộc kháng chiến chống Pháp, hoàn cảnh ñất nước cũng còn nhiều khó khăn, song vấn ñề bảo vệ rừng ñã ñược ðảng và Chính phủ quan tâm hơn. Trong giai ñoạn này, Nhà nước ta ñã ban hành các văn bản pháp luật quy ñịnh nội dung liên quan ñến việc khai thác, quản lý gỗ như: Thông tư số 12-TT ngày 25 tháng 4 năm 1957 của Bộ Nông lâm về kế hoạch lãnh ñạo bảo vệ rừng trong khai thác; Nghị ñịnh số 596-TTg ngày 03 tháng 10 năm 1957 của Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành ðiều lệ tạm thời khai thác gỗ củi… Trong Nghị ñịnh này, tại ðiểm c ðiều 13 mục B - Cách xử lý vi phạm ñiều lệ có quy ñịnh: “Những vụ phạm pháp có tính chất phá hoại sẽ do Tòa án xét xử theo hình luật”(6). Từ những quy ñịnh tại các văn bản riêng lẻ nói trên, ñến năm 1959, vai trò của rừng ñã ñược chính thức ghi nhận tại ðiều 12 Hiến pháp năm 1959: “Các hầm mỏ, sông ngòi và những rừng cây, ñất hoang, tài nguyên khác mà pháp luật quy (5) Thông tư số 1303 BCN/VP ngày 28 tháng 6 năm 1946 của Liên bộ Nội vụ và Canh nông quy ñịnh ñiều chỉnh những hành vi xâm hại ñến rừng. (6) Nghị ñịnh số 596-TTg ngày 03 tháng 10 năm 1957 của Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành ðiều lệ tạm thời khai thác gỗ củi.
8 ñịnh là của Nhà nước, ñều thuộc sở hữu toàn dân”(7). ðiều này có ý nghĩa to lớn bởi nó là cơ sở pháp lý quan trọng nhất ñể ban hành các văn bản pháp luật, ñiều chỉnh cụ thể các quan hệ xã hội liên quan ñến lĩnh vực bảo vệ rừng. Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, công tác bảo vệ rừng ngày càng ñược Nhà nước quan tâm với việc ban hành nhiều văn bản pháp luật quy ñịnh về lĩnh vực này như: Nghị ñịnh số 10-CP ngày 26 tháng 4 năm 1960 của Hội ñồng Chính phủ quy ñịnh chế ñộ tiết kiệm gỗ; Quyết ñịnh số 603-LN ngày 24 tháng 8 năm 1963 của Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp ban hành quy trình tạm thời về khai thác gỗ; Nghị ñịnh số 39/CP ngày 05 tháng 4 năm 1963 của Hội ñồng Chính phủ ban hành ðiều lệ tạm thời về săn, bắt chim, thú rừng của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; Thông tư số 40-LN ngày 20 tháng 7 năm 1963 của Tổng cục Lâm nghiệp về giải thích và hướng dẫn thi hành ðiều lệ tạm thời về săn, bắt chim, thú rừng. Ngoài việc quy ñịnh nội dung về chuyên môn, kỹ thuật (phân loại ñối tượng, quy ñịnh biện pháp, khu vực, phương pháp, phương tiện khai thác, săn bắt), các văn bản nói trên còn quy ñịnh cả hình thức xử lý ñối với các hành vi vi phạm ñiều lệ như khai thác, sử dụng, quản lý gỗ củi và săn, bắt chim, thú rừng.
Trong ñó, các hành vi vi phạm trong lĩnh vực khai thác, sử dụng, bảo quản gỗ có thể bị xử lý hình sự, cụ thể như sau: ðiều 56 Quyết ñịnh số 603-LN ngày 24 tháng 8 năm 1963 của Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp ban hành quy trình tạm thời về khai thác gỗ quy ñịnh: Những vụ vi phạm quy trình này sẽ tùy từng trường hợp mà xử lý theo ñiều 13 của ðiều lệ tạm thời khai thác gỗ củi ban hành kèm theo Nghị ñịnh số 596-TTg ngày 03 tháng 10 năm 1955 của Thủ tướng Chính phủ hoặc ñiều 14 Nghị ñịnh 10-CP ngày 26 tháng 4 năm 1960 của Hội ñồng Chính phủ quy ñịnh chế ñộ tiết kiệm gỗ(8). Theo ñó, tại ðiểm c ðiều 13 của ðiều lệ tạm thời khai thác gỗ củi ban hành kèm theo Nghị ñịnh số 596-TTg ngày 03 tháng 10 năm 1955 của Thủ tướng Chính phủ quy ñịnh: “Những vụ phạm pháp có tính chất phá hoại sẽ do Tòa án xét xử theo hình luật”(9) và tại ðiều 14 Nghị ñịnh 10-CP ngày 26 tháng 4 năm 1960 quy ñịnh: “…Các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân không chấp hành ñúng chế ñộ tiết kiệm (7) Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959. (8) Quyết ñịnh số 603-BLN ngày 24 tháng 8 năm 1963 của Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp ban hành quy trình tạm thời về khai thác gỗ. (9) Nghị ñịnh số 596-TTg ngày 03 tháng 10 năm 1957 của Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành ðiều lệ tạm thời khai thác gỗ củi.
9 gỗ thì tùy từng trường hợp có thể bị thi hành kỷ luật hành chính (cảnh cáo, giáng chức, cách chức) hoặc bị truy tố trước tòa án và bị xử phạt theo Sắc lệnh số 267-SL ngày 15 tháng 06 năm 1956 của Chủ tịch Chính phủ nước Việt nam dân chủ cộng hòa”(10). Các nhà lập pháp ngày càng ñánh giá cao vai trò quan trọng của rừng, ñó là một bộ phận của môi trường sống, là tài sản quý báu của nước ta, có giá trị lớn ñối với nền kinh tế quốc dân và văn hoá công cộng. Việc bảo vệ rừng phải do Nhà nước và toàn dân cùng làm và ra sức ñấu tranh chống mọi hành ñộng thiệt hại ñến rừng. Và kiên quyết hơn, nhằm bảo vệ hiệu quả nguồn tài nguyên rừng, trên cơ sở Hiến pháp 1959, ngày 06 tháng 9 năm 1972, Ủy ban thường vụ Quốc hội ñã thông qua Pháp lệnh quy ñịnh về việc bảo vệ rừng, gồm năm chương, 26 ðiều xác ñịnh rõ vị trí, vai trò của rừng; quy ñịnh những biện pháp bảo vệ rừng, trong ñó cấm thực hiện những hành vi như: phá rừng, chặt cây rừng trái quy ñịnh Nhà nước, cấm săn bắt chim muông, thú rừng, cấm phát rừng, ñốt rừng làm nương rẫy, cấm ñốt lửa trong rừng v.v…; chế ñộ thưởng, phạt, hình thức xử lý ñối với những hành vi vi phạm.
Ngoài việc quy ñịnh xử phạt hành chính ñối với những vi phạm không gây thiệt hại lớn ñến tài nguyên rừng, Pháp lệnh này quy ñịnh việc truy cứu TNHS ñối với hành vi vi phạm có tính chất lớn trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng tại ðiều 22 như sau: Kẻ nào vi phạm một trong các ñiều ghi ở Chương II của Pháp lệnh này hoặc tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản, gây thiệt hại lớn ñến tài nguyên rừng hoặc ñã bị xử phạt mà còn vi phạm thì sẽ bị truy tố trước Tòa án nhân dân và có thể bị phạt tù từ ba tháng ñến hai năm và phạt tiền từ 200 ñồng ñến 2.000 ñồng, hoặc một trong hai hình phạt ñó. Cố ý huỷ hoại tài nguyên rừng hoặc cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế ñộ, thể lệ về bảo vệ rừng, gây thiệt hại ñến tài nguyên rừng; thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc vô ý làm cháy rừng hay là có (10) Nghị ñịnh số 10-CP ngày 26 tháng 4 năm 1960 của Hội ñồng Chính phủ quy ñịnh chế ñộ tiết kiệm gỗ. 10 những hành ñộng khác gây thiệt hại nghiêm trọng ñến tài nguyên rừng thì bị xử phạt theo Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, ngày 21 tháng 10 năm 1970.