mở đầu thời kỳ quy hoạch phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp. Trên cơ sở QHSDĐ theo địa lý và vùng sản xuất, là nền tảng của quy hoạch vùng cho sản xuất nông nghiệp. Sự phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa. Do công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, nên nhu cầu lượng gỗ rigày càng tăng.
Sản xuất gỗ đã tách khỏi kinh tế địa phương của chế độ ph ién va bước vào thời đại kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa. Thực tế sẵn uâ nghĩ ph không | còn bó hẹp trong việc sản xuất gỗ đơn thuần mà cần phải những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu hoạch lợi nhuận lâu dài cho các cha rừng. Chính hệ thống hoàn chỉnh về lý luận quy hoạch lâm nghiệp đã được hình thành trong hoàn cảnh như vậy. G2 Dau thé ky 18, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ giải quyết việc “ Khoanh khu chặt luân chuyển”, có nghĩa là đem trữ lương hoặc diện tích tài nguyên rừng chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác và tiền hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc diện tích.
Phương thức này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác ngắn. Sau cuộc cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ 19 phương thức kinh doanh rừng chỗi được thay thế bằng phương thức kinh doanh rừng hạt với chu kỳ khai thác dài và phương thức “khoanh khu chặt luân chuyển” nhường chỗ cho phương thức “ chia đều” của Harting. Hartinh đã chia đều chu kỳ khai thác thành nhiều thời kỳ lợi dụng và trên cơ sở đó khống:chế được lượng chặt hàng năm. Đến năm 1816, xuất hiện phương thức luân kỳ lợi dụng của H.
Cotta chia chu kỳ khai thác chính thành .20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy đó để không chế lượng chặt hàng năm. Sau đó phương pháp “ Bình quân thu hoạch “ ra đời, quan điểm phương pháp này là giữ đều mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại, đồng thời vẫn đảm bảo thu hoạch được liên tục trong chù kỳ sau. Và đến cuối thế kỷ 19, xuất hiện phương pháp “ Lâm phần kinh tế? của Judeich. Phương pháp này chính là tiền đề của hai phương pháp tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng khác nhau.
Tại Mỹ, bang Wiscosin đã tạo ra đạo luật sử dụng đất đai vào năm 1929 và tiến hành xây dựng kế hoạch sử dụng đất đầu tiên cho vùng Oneide của Wiscosin, kế hoạch này đã xác định các diện tích cho sử dụng lâm nghiệp, nông nghiệp và nghỉ ngơi giải trí. Ei 1967 hội đồng nông nghiệp Châu Âu đã phối hợp với tỗ chức FAO tổ chức nhiều hội nghị về phát triển nông thôn và quy hoạch sử dụng đất. Các hội ághị này yy định rằng quy hoạch vùng nông thôn trong đó có quy hoạch G4e-ving $4 BÃI như nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi. cũng như quy hoạch cớ sở hạtang,"đc biệt là giao thông phải dựa trên cơ sở quy hoạch đất đai.
Tại Đức, Haber năm 1972 đã xuất bản tài liệu “ Khái niệm về sử dụng đất đất khác nhau”, đây được coi là lý thuyết sinh thái về quy hoạch sử dụng dựa trên quan điểm về mối quan hệ hợp lý giữa tính đa dạng của quan hệ sinh thái cũng như sự ổn định của chúng với năng suất và khả năng điều chỉnh. Từ năm 1976 Hội đồng nông nghiệp Châu Âu đã phối hợp với tổ chức FAO tổ chức nhiều hội nghị về phát triển nông thôn và quy hoạch sử dụng đất. Các hội nghị này khẳng định rằng quy hoạch vùng nông thôn trong đó quy hoạch các ngành sản xuất như nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuõi,.cững như quy hoạch cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông phải dựa trên quy hoạch đất đai. Trên thế giới mô hình sử dụng đất đầu tiên là du canh, chính là những hệ thống nông nghiệp trong đó đất đã được phát quang đề canh tác trong một thời gian, ngăn hơn thời gian bỏ hóa ( Conklin, 1957).
Du canh được xem là phương thức canh tác cổ xưa nhất, nó ra đời vào cuối thời kỳ đồ đá mới, khi con người đã tích lũy được những kiến thức ban đầu về tự nhiên: Mặc dù có nhiều hạn chế về môi trường, song phương thức này vẫn được sử dụng khá phổ biến ở các vùng nhiệt đới. Tuy nhiên về chiến lược phát triển kinh tế bền vững, du canh được xem như là một sự lãng phí về sức người, về tài nguyên đất đai, là nguyên nhân gây nên sự xói mòn và thoái hóa đất đai ( Grinnell, 1977). Trên cơ sở giải quyết những nhược điểm của phương thức du canh đã có một số mô hình, hệ thống canh tác mới ra đời. Taungya được coi như là một phương thức canh tác có thể chấp nhận được về cả mặt hiệu quả kinh tế và môi trường 8inh thái bằng sự kết hợp đồng thời của cả hai loại cây nông nghiệp và cây lâm nghiệp.
Dưới sức ép ngày càng lớn của việc gia tăng dân số, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người về kinh tế- môi trường á1„£thì/Taungýa tỏ ra “yếu đuối” không thích hợp. é en © về Hang thuc, cona là cầu ane sàng cao tim cach rộng diện tíc Seltác. Để làm được điều đó công tác điều tra, khảo sát, phân loại và quy hoạch sử dụng đất hợp lý, chuyển dich cơ cấu cây trồng vật nuôi và đặc biệt là theo hướng nghiên cứu đánh giá tổng hợp tiềm năng của dat dai cho các mục tiêu sử dụng bền vững đã trở thành một yêu cầu bức thiết. Một trong những nghiên cứu thành công của quá trình nghiên cứu đó là việc tim ra hệ thống kỹ thuật canh tác trên đất dốc viết tắt lầ SLAT ( Slopping Agricultural Land Technology) nhằm sử dụng đất dốc bền vững và đã được trung tâm phát triển Nông thôn Bapsit Midanao Philippines tổng kết và phát triển từ những năm 1970 đến nay.
Năm 1985, tai hoi nghị PRA ở Thái Lan thì thuật ngữ “ Sự tham gia/người tham gia” được sử dụng. Giai đoạn 1990-1991 là giai đoạn bùng nỗ PRA tại Án Độ với các chương trình, đự án phát triển nông thôn và phát triển lâm nghiệp xã hội. Cũng trong thời gian đó PRA cũng xuất hiện ở Châu. Và cho đến nay đã có hơn 30 nước đã và dang áp dụng PRA vào các chương trình xã hội như xóa đói giảm nghèo, phát triển nông thôn đã cho thấy ưu thế của phương pháp này.
Nhìn chung, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển sản xuất nông lâm nghiệp ngay từ khi mới ra đời cho đến nay đã có nhiều biến đổi rõ rệt, xây dựng phương pháp ngày càng hoàn chỉnh hơn, phù hợp dần với thực tiễn sản xuất và thử nghiệm về quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch nông lâm nghiệp, nhưng lý thuyết về quy höạch sử dụng đất cấp xã và cấp hành chính thấp nhất chưa được hoàn chỉnh và đầy đủ. Tai Viét Nam. Quy hoạch lâm nghiệp là tiến hành phân chia, xắp xếp hợp lý về mặt khéngygi i nguyén rimg va bố trí cân đối các hạng mục sản xuất kinh doank theo ca Ấp quản lý lãnh thô và các cấp quản lý sản xuất khác nhau làm cơ sổ. pkế hoạch cho sản xuất kinh doanh lâm nghiệp đáp ứng nhu cà lâm sả lấy nền kinh tế quốc dân, cho kinh tế địa phương, đông thời phát huy những tác 2 dung có lợi khác của rừng.
Quy hoạch lâm nghiệp áp dụng ở nước ta ngay từ thời kỳ Pháp thuộc. Như việc xây dựng phương án điều chế rừng chồi, sản xuất củi, điều chế rừng Thông theo phương pháp hạt đều. Đến năm 1955-1957, tiền hành sơ thám và mô tả ước lượng tài nguyên rừng. Năm 1958-1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng miền Bắc.
Mãi đến năm 1960-1964, công tác quy hoạch lâm nghiệp mới áp dụng ở miền Bắc. Từ năm 1965, lực lượng quy hoạch lâm nghiệp ngày'càng được tăng cường và mở rộng. Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chế với lực lượng điều tra quy hoạch của Sở lâm nghiệp ( nay là sở nông nghiệp và phát triển nông thôn ) không ngừng cải tiến phương pháp điều tra, quy hoạch lâm nghiệp của các nước ngoài cho phù hợp với trình độ và điều kiện tài nguyên rừng ở nước ta. Tuy nhiên, so với lịch sử phát triển của các nước khác thì quy-hoạch lâm nghiệp Việt Nam hình thành và phát triển muộn hơn nhiều.
Vì vậy, những nghiên cứu cơ bản về kinh tế, xã hội, kỹ thuật và tài nguyên rừng làm cơ sở cho công tác này ở nước ta đang trong giai đoạn vừa tiến hành vùa nghiên cứu áp dụng.nay, công tác quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ tiến hành sơ thám, mô tả để ước lượng tài nguyên hiện có, phát triển vốn rừng và đưa nghề rừng trở thành một ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu phát triển kinh tế của đất nước. Vì vậy công tác quy hoạch sản xuất lâm nghiệp ngày càng được quatâm nhiéu hon: Năm 1994, tổng cục địa chính đã xây dựng kế hoạch và triển khai công tác quy hoạch sử dụng đất trên quy mô cả nước giai đoạn 1995-2000. Trong do, viéc Ja é hogeh giao đất nông, lâm nghiệp có rừng để sử dụng vào mục sử dung dat. Nguyễn Xuân Quát (1996) , đã phân tích tình hình sử dụng đất đai và và đề xuất mô hình sử dụng đất tổng hợp bền vững, mô hình khoanh nuôi phục hồi rừng ở Việt Nam.
Đồng thời đưa ra những tập đoàn cây trồng thích hợp cho các mô hình sử dụng đất tổng hợp bền vững trong công trình nghiên cứu “Sử dụng đất tổng hợp và bền vững” Phương pháp tiếp cận nông thôn có người dân tham gia được đề cập trong chương trình tập huấn Dự án hỗ trợ lâm nghiệp của trường Đại học Lâm Nghiệp. Lý Văn Trọng, Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Nghĩa Biến và Trần Ngọc Bình (1997), đã phối hợp với các chuyên gia trong và ngoài nước biên soạn những vấn đề chính sau : - Các khái niệm và phương pháp tiếp sấp trong quá trình tham gia. - Các phương pháp, công cụ đánh giá nông thôn có người dân tham gia. - Tổ chức quá trình đánh giá nông thôn.
- Thực hành tổng hợp. Tài liệu về quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp có sự tham gia của người dân, Trần Hữu Viên (1999) đã kết hợp phương pháp quy hoạch sử dụng đất trong nước và của một số dự án quốc tế đang áp dụng tại một số vùng có dự án ở Việt Nam. Trong đó tác giả đã trình bày về khái niệm và nguyên tắc chỉ đạo quy hoạch sử dụng đất và giao đất cho người dân tham gia.