Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Đất đai gắn liền với đời sống và sinh hoạt của con người, nó có vai trò to lớn đối với SXNLN và các ngành kinh tế nói chung. Tuy nhiên, hiện nay trước sức ép về dân số tăng nhanh, nhu cầu của con người về mọi mặt ngày càng cao, làm cho các nguồn tài nguyên cạn kiệt nhanh chóng, và làm cho trái đất ngày càng gần tới hơn khả năng chịu đựng cuối cùng của nó. Mất rừng đã dẫn đến các quy luật về thời tiết, khí hậu bị xáo trộn, hiện tượng hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ khí quyển của trái đất ngày càng tăng, thiên tai lũ lụt, hạn hán thường xuyên xảy ra trên diện rộng, làm cho đất đai bị xói mòn, rửa trôi, bạc màu, diện tích sa mạc hoá ngày càng lớn,…làm ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống, sinh hoạt, sản xuất,… thậm chí đe doạ đến sự tồn tại của con người nói riêng và làm ảnh hưởng tới sự sống của toàn cầu nói chung. Những ảnh hưởng và mất mát này đang trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới.
Nhiều chính sách, chủ trương, công trình, chương trình, dự án nghiên cứu nhằm giải quyết các mối quan tâm đó, và đã và đang thu hút nhiều chuyên gia đầu ngành của các nước trên thế giới cùng tham gia.1 Trên thế giới 1.1 Những nghiên cứu liên quan đến cơ sở khoa học Từ những năm của thế kỷ 19 khoa học về đất đã được các nước phát triển bắt đầu quan tâm nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu trên lĩnh vực này liên tục phát triển cả về số và chất lượng. Những thành tựu về phân loại đất và xây dựng bản đồ đất được sử dụng làm cơ sở quan trọng cho việc tăng năng suất và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả. Các công trình nghiên cứu về qui hoạch sử dụng đất đều xuất phát từ đòi hỏi thực tế khách quan nhằm đáp ứng nhu cầu ngày một tăng của xã hội loài người.
Hệ thống canh tác (Farming System) là sự bố trí một cách thống nhất và ổn định các ngành trong nông trại, được quản lý bởi hộ gia đình trong môi trường tự 4 nhiên, sinh học và kinh tế xã hội, phù hợp với các mục tiêu mong muốn và nguồn lực của hộ (Shaner, Philip và Schemmedli, 1984) [51]. Hệ thống canh tác bao gồm các nguồn lực (đất, lao động, vốn) được sử dụng cho các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, nghề phụ để sản xuất các nông sản (lương thực, nguyên liệu thô, tiền mặt) trong nông trại với điều kiện nhất định (Willem C. Du canh được xem là phương thức canh tác cổ xưa nhất, nó ra đời từ cuối thời kỳ đồ đá mới, khi con người đã tích luỹ được những kiến thức ban đầu về địa phương. Tuy nhiên cho mãi đến gần đây du canh vẫn còn được vận dụng ở một số nơi, như trên các rừng Vân sam ở Bắc Âu (Cox và Atkinss, 1979; Russell, 1968; Ruddle và Manshard, 1981), mặc dù hạn chế ở nhiều mặt về môi trường sinh thái, song phương thức này vẫn được sử dụng khá phổ biến ở các vùng nhiệt đới.
Tại Mỹ, bang Wiscosin đã ban hành đạo luật về sử dụng đất vào năm 1929, tiếp theo là xây dựng kế hoạch sử dụng đất đầu tiên cho vùng Oneide của Wiscosin, kế hoạch này đã xác định các diện tích cho sử dụng lâm nghiệp, nông nghiệp và nghỉ ngơi giải trí. Năm 1966, hội Đất học và nông dân học Mỹ cho ra đời chuyên khảo về hướng dẫn điều tra đất, đánh giá khả năng của đất và ứng dụng QHSDĐ. Tại Đức, tác giả Haber năm 1972 đã xuất bản tài liệu “Khái niệm về sử dụng đất khác nhau”, đây được coi là lý thuyết sinh thái về QHSDĐ dựa trên quan điểm về mối quan hệ hợp lý giữa tính đa dạng của hệ sinh thái cũng như sự ổn định của chúng với năng suất và khả năng điều chỉnh. Từ năm 1967 hội đồng nông nghiệp Châu Âu đã phối hợp với tổ chức FAO tổ chức nhiều hội nghị về phát triển nông thôn và QHSDĐ.
Các hội nghị này khẳng định quy hoạch vùng nông thôn trong đó quy hoạch các ngành sản xuất như nông, lâm nghiệp, chăn nuôi, chế biến nhỏ,… cũng như quy hoạch cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông phải dựa trên cơ sở quy hoạch đất đai. 5 Sự ra đời của các phương thức Taungya ở vùng nhiệt đới được đánh giá như một dấu hiệu báo trước cho các phương thức sử dụng đất sau này (Nair, 1978) trước tiên được Brandis vận dụng trong việc tái sinh rừng tếch từ cuối thế kỹ 19, sau đó đã nhanh chóng được bổ sung hoàn thiện và phổ biến trên toàn thế giới với tên gọi chung là phương thức nông lâm kết hợp (NLKH), được coi là hệ thống sử dụng đất có hiệu quả cả về kinh tế và môi trường sinh thái. FAO (1990) thông báo đã có tới 117 quốc gia trên thế giới áp dụng phương thức này. Một trong những phương thức sử dụng đất có hiệu quả cao, bền vững ổn định trên đất dốc đó là mô hình SALT (Sloping Agricultural Land Technology) đã được Trung tâm đời sống nông thôn ở Bapstit Mindanao Philippin tổng kết, hoàn thiện và phát triển từ giữa những năm 1970 đến nay [26].
Trong quá trình phát triển và hoàn thiện cho đến năm 1992 đã có 4 mô hình tổng hợp về kỹ thuật canh tác nông nghiệp bền vững trên đất dốc được các tổ chức quốc tế ghi nhận đã và đang áp dụng, đó là: - Mô hình SALT1 (Sloping Agricultural Land Technology) đây là mô hình tổng hợp dựa trên cơ sở các biện pháp bảo vệ đất với sản xuất lương thực. Kỹ thuật canh tác nông nghiệp trên đất dốc với cơ cấu 25% cây lâm nghiệp + 25% cây lưu niên (nông nghiệp) + 50% cây nông nghiệp hàng năm. - Mô hình SALT2 (Simple Agro - Forest Technology) đây là mô hình kinh tế nông, lâm, súc kết hợp kết hợp đơn giản với cơ cấu 40% nông nghiệp + 20% lâm nghiệp + 20% chăn nuôi + 20% làm nhà ở và chuồng trại. - Mô hình SALT3 (Sustainable Agro - Forest Technology) kỹ thuật canh tác bền vững.
Cơ cấu sử dụng đất là 40% nông nghiệp + 60% lâm nghiệp, mô hình này đòi hỏi đầu tư cao cả về nguồn lực vốn và kỹ thuật. - Mô hình SALT4 (Small Agro - Fruit Likelihood Technology) đây là mô hình kỹ thuật sản xuất nông, lâm nghiệp kết hợp với cây ăn quả quy mô nhỏ. Cơ cấu sử dụng đất 60% lâm nghiệp + 15% nông nghiệp + 25% cây ăn quả. Đây cũng là mô hình đòi hỏi đầu tư cao cả về nguồn lực, vốn và kỹ thuật.
Các mô hình canh tác nông nghiệp bền vững trên đất dốc có sự phối hợp hài hoà giữa cây nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc đều dựa trên cơ sở có sự 6 nghiên cứu phân bổ các loại đất đai cho các loại cây trồng vật nuôi một cách hợp lý, khoa học nhằm tạo ra hiệu quả kinh tế cao nhất và bền vững nhất về mặt môi trường sinh thái. Kết quả tổng kết các tài liệu nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp tại địa phương chỉ ra rất nhiều cách tiếp cận, nhưng tựu chung các phương pháp tiếp cận đi theo hai hướng chính đó là: Tiếp cận từ trên xuống và tiếp cận từ dưới lên. Cách tiếp cận từ trên xuống, ngày càng bộc lộ ra những hạn chế, kém hiệu quả khi không có sự tham gia của cộng đồng; Cách tiếp cận từ dưới lên được hình thành khi các nhà xã hội học chứng minh rằng “sự không thể thiếu được” vai trò cộng đồng nông thôn trong quản lý tài nguyên cộng đồng Từ đó “Quy hoạch trên cơ sở cộng đồng” bắt đầu xuất hiện. Khi nghiên cứu các hệ thống canh tác năm 1990, FAO đã cho ra đời cuốn “Phát triển hệ thống canh tác”[19].
Công trình đã khái quát phương pháp tiếp cận nông thôn trước đây là phương pháp tiếp cận một chiều từ trên xuống, không phát huy được tiềm năng nông trại và cộng đồng nông thôn. Qua đó chỉ ra phương pháp tiếp cận mới, phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân, nhằm phát triển các hệ thống nông trại trong cộng đồng nông thôn trên cơ sở bền vững. Những nghiên cứu liên quan đến quy hoạch PTNLN cấp vi mô có sự tham gia Tại hội thảo quốc tế tại Việt Nam năm 1998 về vấn đề QHSDĐ cấp làng, bản đã được FAO đề cập một cách khá chi tiết cả về mặt khái niệm lẫn sự tham gia trong việc đề xuất các chiến lược QHSDĐ và giao đất cấp làng, bản [49]. Tại cuộc Hội thảo năm 1998 giữa trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam và trường Tổng hợp kỹ thuật Dresden [48], vấn đề QHSDĐ có sự tham gia của người dân đã được Holm Uibrig đề cập khá đầy đủ.
Tài liệu đã phân tích về mối quan hệ giữa các loại hình canh tác có liên quan như: Quy hoạch rừng, vấn đề phát triển nông thôn, QHSDĐ, phân cấp hạng đất và phương pháp tiếp cận mới trong QHSDĐ Nội dung chủ yếu của quy trình QHSDĐ và giao đất lâm nghiệp bao gồm: 7 - Sự tham gia của người dân trong hoạt động thực thi QHSDĐ và giao đất: Đào tạo cán bộ và chuẩn bị; Hội nghị làng bản và chuẩn bị. - Điều tra ranh giới làng, khoanh vẽ đất đang sử dụng, điều tra rừng và xây dựng bản đồ sử dụng đất. - Thu thập và phân tích số liệu. - QHSDĐ đai và giao đất.
- Xác định đất canh tác nông nghiệp. - Sự tham gia của người dân trong hợp đồng hoặc khế ước và chuyển nhượng đất nông, lâm nghiệp. - Mở rộng quản lý và sử dụng đất. - Kiểm tra và đánh giá.
Những tài liệu hướng dẫn trên là phương tiện tốt để tiến hành QHSDĐ cho cấp xã theo phương pháp cùng tham gia. Những kết luận rút ra từ kinh nghiệm của thế giới Qua các tài liệu nghiên cứu và kinh nghiệm QHSDĐ trên thế giới có thể rút ra kết luận sau: - Mặc dù có nhiều nghiên cứu, thử nghiệm về quy hoạch, phương pháp chuyển giao sử dụng đất, song nhìn chung các phương pháp đều phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, chưa thực sự quan tâm đến lợi ích của người nông dân. - Việt Nam có thể ứng dụng các thành tựu trên vào quy hoạch, nhưng phải vận dụng một cách linh hoạt cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng cộng đồng nông thôn.