Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TRỒNG RỪNG LÀM NGUYÊN LIỆU CHẾ BIẾN GỖ 1.1 Rừng Cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về rừng, tùy thuộc vào góc độ nhìn nhận vai trò, chức năng, tính chất và những đặc trưng cơ bản về rừng. Theo định nghĩa của FAO: Rừng là những diện tích đất lớn hơn 0,5ha, có cây gỗ bao phủ ít nhất 10% diện tích, mà trước đây không phải là đất nông nghiệp hoặc đô thị. Cẩm nang Lâm Nghiệp Việt Nam 2004, định nghĩa rừng “là một quần xã sinh vật, trong đó cây rừng (gỗ hoặc tre nứa) chiếm ưu thế. Quần xã sinh vật phải có một diện tích đủ lớn và có mật độ cây nhất định để giữa quần xã sinh vật với môi trường, giữa các thành phần của quần xã sinh vật có mối quan hệ để hình thành hoàn cảnh rừng khác với hoàn cảnh bên ngoài”.
(Nguyễn Ngọc Bình, 2004) Theo luật lâm nghiệp, định nghĩa rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đáp ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tán che từ 0,1 trở lên. Như vậy, có sự khác nhau trong quan niệm về rừng, điều này phụ thuộc vào mục đích sử dụng khái niệm đó cũng như cách tiếp cận về rừng. *Phân loại rừng: Căn cứ vào nhiều tiêu thức khác nhau, người ta có thể phân loại rừng thành những loại khác nhau - Căn cứ vào nguồn gốc hình thành, rừng được chia thành hai loại: + Rừng tự nhiên: là rừng có nguồn gốc tự nhiên bao gồm các loại rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh (hệ quả của rừng nguyên sinh bị tác động), rừng thứ sinh được Luan van 8 làm giàu bằng tái sinh tự nhiên hay nhân tạo. + Rừng trồng: là rừng do con người tạo nên bằng cách trồng mới trên đất chưa có rừng hoặc trồng lại rừng trên đất trước đây đã có rừng.
- Nếu căn cứ vào tổ thành rừng, dựa vào thành phần và tỷ lệ giữa các loài mà người ta chia ra thành rừng thuần loài và rừng hỗn loài. + Về nguyên tắc, rừng thuần loài là rừng chỉ có một loài. Tuy nhiên trên thực tế, rừng có một số loài khác nhưng số lượng các loài khác này không vượt quá 10% thì vẫn được coi là rừng thuần loài (rừng thuần loài tương đối). + Với rừng hỗn loài, để biểu thị mức độ tham gia của các loài người ta dùng công thức tổ thành.
Thành phần cây gỗ là bộ phận chính và chủ yếu tạo nên độ khép tán (được biểu diễn thông qua độ tán che), độ đầy và trữ lượng lâm phần. - Nếu căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, rừng được phân thành ba loại : rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất. (Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg) + Rừng phòng hộ: Được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường. + Rừng đặc dụng: Được được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường.
+ Rừng sản xuất (rừng kinh tế): Được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường. Rừng sản xuất bao gồm: Rừng sản xuất là rừng tự nhiên; rừng sản xuất là rừng trồng 1.2 Chế biến gỗ Trong các tài liệu thống kê quốc tế, công nghiệp chế biến được hiểu là toàn bộ khu vực công nghiệp trừ ngành khai khoáng, xây dựng và những ngành cung cấp những tiện ích sinh hoạt xã hội (điện, nước, gas) thuộc mã ngành 3 trong ISIC (bảng mã ngành công nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế). Công nghiệp chế biến có đặc trưng làm thay đổi về chất của các đối tượng lao động là nguyên liệu nguyên thủy (sản phẩm của khai thác) thành các sản phẩm trung gian và tiếp tục trở thành các sản phẩm Luan van 9 cuối cùng. Công nghiệp chế biến còn được hiểu là quá trình làm tăng giá trị nông lâm sản.
Sản phẩm có thể cất trữ lâu dài, vận chuyển đi xa mà không bị hư hỏng. Công nghiệp chế biến có vai trò to lớn đối với nền kinh tế xã hội. Chế biến gỗ là quá trình chuyển hóa gỗ nguyên liệu dưới tác dụng của thiết bị, máy móc hoặc công cụ, hóa chất để tạo thành các sản phẩm có hình dáng, kích thước, thành phần hóa học làm thay đổi hẳn so với nguyên liệu ban đầu (Lê Xuân Nguyên, 2011) 1.3 Rừng trồng làm nguyên liệu chế biến gỗ Dựa trên các khái niệm về rừng trồng và chế biến gỗ thì có thể hiểu rừng trồng làm nguyên liệu chế biến gỗ là rừng do con người trồng nên trên đất trống chưa có rừng hay trên đất rừng mới khai thác trắng với mục đích chính là sản xuất, kinh doanh gỗ, ngoài ra còn phát huy chức năng phòng hộ và bảo vệ môi trường.4 Phát triển rừng trồng làm nguyên liệu chế biến gỗ Dựa trên các khái niệm trên có thể hiểu phát triển rừng trồng làm nguyên liệu chế biến gỗ theo quan điểm của tác giả là việc trồng mới rừng, trồng lại rừng sau khai thác để tăng diện tích rừng, nhằm nâng cao thu nhập cho người làm nghề rừng, tăng khả năng cung cấp lâm sản, khả năng phòng hộ và và bảo vệ môi trường. Việc nghiên cứu biến động diện tích rừng trồng sản xuất, phân tích kết quả và hiệu quả rừng trồng sản xuất, nghiên cứu thị trường tiêu thụ gỗ rừng trồng và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển rừng trồng sản xuất là những nội dung không thể thiếu trong nghiên cứu phát triển rừng trồng sản xuất của một địa phương.2 Đặc trưng của rừng trồng làm nguyên liệu chế biến gỗ 1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội Trồng và phát triển rừng trồng làm nguyên liệu chế biến gỗ một mặt ngăn chặn được tình trạng suy thoái của rừng, nâng cao năng suất trữ lượng và làm tăng độ che phủ của rừng góp phần bảo vệ môi trường sinh thái; mặt khác nó cũng gắn với nguy cơ giảm tính đa dạng sinh học của rừng.
Vì vậy, việc đầu tư phát triển rừng trồng nhất thiết phải được xem xét, cân nhắc ngay từ khi hình thành ý tưởng, định hướng phát triển đến tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm PTBV về các mặt kinh tế - xã hội - môi trường. Không vì lợi ích trước mắt mà để lại những hậu quả nghiêm trọng về sau. Luan van 10 Trồng rừng sản xuất có những đặc điểm cơ bản sau: - Thứ nhất, trồng rừng phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên, sinh thái: Không phải bất kỳ ở đâu cũng có thể trồng rừng chế biến gỗ mà chỉ những vùng có diện tích đất trống đồi núi trọc, có điều kiện về đất đai, địa hình, thổ nhưỡng, sinh thái phù hợp mới có thể tiến hành trồng rừng. (Quyết định số 18/2007/QĐ - TTg) - Thứ hai, Trồng rừng nhằm khai thác hết tiềm năng đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.
- Thứ ba, Trồng rừng góp phần nâng cao độ che phủ, bảo vệ môi trường sinh thái và PTBV: Trồng rừng làm tăng lưu vực nguồn sinh thủy và khả năng phòng hộ đầu nguồn các hồ đập, điều tiết dòng chảy chống xói mòn, rữa trôi đất, cải thiện và điều hòa khí hậu trong vùng sinh thái, tạo môi trường sống thuận lợi cho các loài động vật rừng sinh sống và phát triển. Theo kết quả nghiên cứu mới đây về kinh tế môi trường của các nhà khoa học. Việc trồng và phát triển rừng làm tăng giá trị dịch vụ môi trường nhằm phục vụ và đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống, thúc đẩy PTBV.2 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật Xuất phát từ mục đích, đối tượng rừng trồng để làm nguyên liệu chế biến gỗ có điểm khác biệt so với các loại rừng khác nên quy trình trồng rừng cũng có những đặc thù nhất định. Tuy nhiên để đảm bảo rừng trồng có năng suất, hiệu quả cao, việc trồng rừng cần phải tuân thủ các quy định cụ thể cho từng loài cây, từ chọn giống cây trồng, chọn đất, chuẩn bị đất, tiến hành tròng cho đến chăm sóc, bảo vệ và khai thác.
Quá trình phát triển rừng trồng phải đảm bảo các yêu cầu sau: 1. Yêu cầu về đất đai: Việc bố trí cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai sẽ phát huy lợi thế so sánh của từng vùng. Tùy vào từng điều kiện khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng để bố trí các loại cây trồng phù hợp với đặc điểm sinh học của từng loài cây. Vấn đề quan trọng là khi điều tra khảo sát tìm đất để trồng cây gì thì phải đánh giá thành phần cơ giới của đất, lập bản đồ thổ nhưỡng tạo điều kiện để sau này có chế độ chăm sóc, bón phân thích hợp đưa lại hiệu quả sản xuất kinh doanh cao.
Các loại đất được quy hoạch vào trồng rừng bao gồm: (Ngô Nữ Quỳnh Trang, 2009) + Đối tượng Ia: Đất trống đặc trưng bởi thực bì cỏ, lau lách hoặc chuối rừng. Luan van 11 + Đối tượng Ib: Đồi trọc đặc trưng bởi thực bì cây bụi, sim mua và cũng có thể có ít một số cây gỗ, tre mọc rãi rác. + Đối tượng Ic: Rừng phục hồi đặc trưng bởi cây gỗ rải rác và các thân cây gỗ tái sinh với mật độ thấp. + Ngoài ra hiện nay các tỉnh còn có xu hướng chuyển đổi đối tượng rừng nghèo kiệt sang rừng trồng với kỳ vọng nhanh đưa lại nguồn thu và HQKT cao hơn so với các phương thức tác động khác.
Tùy theo phân loại các hạng đất như độ dốc, tầng dày, thành phần cơ giới của đất và đặc trưng của các loại thực bì trên từng nhóm, mức đọ đáp ứng yêu cầu về đất đai của mỗi loại đất hoàn toàn khác nhau.