Khóa luận tốt nghiệp luật học tội vi phạm chế độ một vợ một chồng theo quy định bộ luật hình sự năm 2015

Khóa luận nghiên cứu tội vi phạm chế độ một vợ một chồng theo Bộ luật Hình sự năm 2015, phân tích quy định pháp lý và các hình thức xử lý.

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Hình Sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2025

78
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và nguyên tắc chế độ một vợ một chồng

Chế độ một vợ, một chồng là nguyên tắc cơ bản trong hôn nhân và gia đình ở Việt Nam, được quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình. Đây là cấu thành pháp lý của hôn nhân hiện đại, đảm bảo tính chứng thực và độc quyền của quan hệ hôn nhân. Nguyên tắc này xuất phát từ nhu cầu bảo vệ gia đình, duy trì trật tự xã hội và phát triển bền vững. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã đưa ra những quy định cụ thể để phạt những hành vi vi phạm chế độ này. Việc vi phạm không chỉ là sự xâm phạm đạo đức mà còn gây tổn hại đến an định gia đình, ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội. Tính chất nguy hiểm của tội phạm này được nhận thức ngày càng rõ ràng trong bối cảnh phát triển xã hội hiện đại.

1.1. Định nghĩa tội vi phạm chế độ một vợ một chồng

Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng là hành vi của người đã đăng ký kết hôn, lập gia đình thứ hai hoặc liên tục có quan hệ tình dục với người khác ngoài vợ/chồng hợp pháp. Dấu hiệu định tội bao gồm: chủ thể là người đã có vợ/chồng; hành vi là lập gia đình thứ hai hoặc có quan hệ tình dục liên tục; có ý thức rõ ràng về tính chất vi phạm. Đây là tội xâm phạm đạo đức gia đình có tính chất nguy hiểm đến sự ổn định xã hội.

1.2. Nguyên tắc cơ bản và yêu cầu pháp lý

Nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng được Hiến pháp Việt Nam xác định là nền tảng. Yêu cầu pháp lý bắt buộc người đã kết hôn phải giữ sự chung thủy với vợ/chồng. Bất kỳ hành vi lập gia đình thứ hai hay có quan hệ tình dục khác đều được xem là vi phạm pháp luật, dẫn đến trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự năm 2015.

II. Dấu hiệu pháp lý và cấu thành tội phạm

Cấu thành tội phạm về vi phạm chế độ một vợ, một chồng được xác định qua bốn dấu hiệu chính. Dấu hiệu khách thể là hôn nhân đã được đăng ký hợp pháp. Dấu hiệu mặt khách quan là hành vi lập gia đình thứ hai hoặc có quan hệ tình dục liên tục với người khác. Dấu hiệu chủ thể là cá nhân đã có vợ/chồng hợp pháp. Dấu hiệu mặt chủ quan là có ý thức, lường trước hành vi và hậu quả. Bộ luật Hình sự quy định các yếu tố này phải cùng tồn tại để cấu thành đủ tội. Việc xác định chính xác các dấu hiệu là cơ sở quyết định kết luận pháp lý, ảnh hưởng trực tiếp đến hình phạt cụ thể.

2.1. Dấu hiệu khách thể và chủ thể

Dấu hiệu khách thể là quan hệ hôn nhân đã đăng ký hợp pháp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Không phải là đơn phương công khai, mà phải là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Dấu hiệu chủ thểcá nhân đã lập gia đình, bất kể giới tính. Người này phải có năng lực hành vi hình sự đủ, có khả năng nhận thức và kiểm soát hành vi của mình.

2.2. Dấu hiệu mặt khách quan và chủ quan

Hành vi khách quan bao gồm: lập gia đình thứ hai hoặc có quan hệ tình dục liên tục với người khác. Điểm khác biệt giữa hai hành vi này là tính chấtmục đích. Dấu hiệu mặt chủ quan yêu cầu ý thức rõ ràng, biết rằng mình đang vi phạm; có dục vọng hay ít nhất là sự chấp nhận hậu quả của hành vi.

III. Quy định hình phạt và khung hình phạt

Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định khung hình phạt cụ thể cho tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Hình phạt chính bao gồm phạt tiền từ 1 triệu đến 10 triệu đồng, hoặc cải tạo không giam giữ từ 3 tháng đến 3 năm. Trong những trường hợp đặc biệt, có thể kết hợp hình phạt bổ sung như cấm quyền. Định khung hình phạt dựa trên nhiều yếu tố: tính chất hành vi, mức độ nguy hiểm, hậu quả gây ra, thái độ và nhân thân của bị cáo. Tòa án có quyền tùy biến trong khung xử phạt đã được pháp luật quy định, nhằm công bằng hóalân cận hóa hình phạt với từng trường hợp cụ thể.

3.1. Hình phạt chính và hình phạt bổ sung

Hình phạt chính gồm phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ. Hình phạt bổ sung có thể áp dụng bao gồm: cấm quyền dân sự (cấm chức vụ, cấm dạy học, v.v.). Việc lựa chọn loại hình phạt phụ thuộc vào quyết định của Tòa án dựa trên tính chất hành vi vi phạmmục đích của hình phạt.

3.2. Yếu tố xác định khung hình phạt

Tòa án xem xét: tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi; hậu quả gây ra; thái độ của bị cáo; tính chất kèm theo (có liên quan đến tham nhũng, dụ dỗ, v.v.); tiền án, tiền sự. Trách nhiệm pháp lý được xác định để giáo dục, cải tạo người vi phạm, bảo vệ xã hộingăn chặn tái phạm.

IV. Thực tiễn áp dụng và hoàn thiện pháp luật

Thực tiễn xét xử tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng giai đoạn 2020-2024 cho thấy số lượng vụ án có xu hướng tăng, phản ánh tình trạng vi phạm đạo đức gia đình ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, hiệu quả áp dụng pháp luật còn gặp nhiều bất cập, hạn chế. Nguyên nhân bao gồm: chứng cứ khó thu thập, thiếu sự hợp tác từ nạn nhân, khó phân biệt giữa quan hệ tình dục đơn lẻ và liên tục. Để hoàn thiện quy định, cần làm rõ các khái niệm, quy định thủ tục chứng minh cụ thể, nâng cao nhận thức pháp lý cho cộng đồng, tạo điều kiện thuận lợi cho những nạn nhân khi tố giác tội phạm.

4.1. Những bất cập trong thực tiễn áp dụng

Bất cập chính bao gồm: khó xác định liên tục của quan hệ tình dục; thiếu bằng chứng rõ ràng; quy trình điều tra chậm chạp; rập khuôn trong áp dụng pháp luật. Nhiều vụ án bị yêu cầu điều tra lại, hủy bản án do thiếu chứng cứ thuyết phục. Khó khăn trong chứng minh dẫn đến tỷ lệ truy tố thấp.

4.2. Kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả

Cần sửa đổi quy định để làm rõ khái niệm liên tục; hướng dẫn chi tiết về chứng cứ chấp nhận được; đào tạo cán bộ điều tra, truy tố; tuyên truyền pháp luật rộng rãi; bảo vệ nạn nhân khi tố giác; xem xét mức độ của hành vi để áp dụng hình phạt công bằng.

11/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng Chương 2: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng CHƢƠNG 1: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI VI PHẠM CHẾ ĐỘ MỘT VỢ MỘT CHỒNG Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng được quy định tại Điều 182 BLHS năm 2015: “Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng 5 1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm: a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn; b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát; b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

Điều luật này thể hiện việc pháp luật bảo vệ hôn nhân tiến bộ, tự nguyện, hôn nhân một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng xâm phạm một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật HN&GĐ là nguyên tắc một vợ, một chồng.1 Để xác định được cụ thể, rõ ràng hành vi đó có vi phạm chế độ một vợ, một chồng và có thuộc trường hợp bị xử phạt hình sự theo Điều 182 BLHS năm 2015, cần hiểu rõ về dấu hiệu định tội và dấu hiệu định khung hình phạt của tội phạm này. Đồng thời, việc phân tích dấu hiệu pháp lý là cơ sở để xây dựng các biện pháp phòng ngừa và xử lý tội phạm một cách hiệu quả. Dấu hiệu định tội của Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng Dấu hiệu định tội là dấu hiệu mô tả tội phạm và cho phép phân biệt tội phạm này với tội khác cũng như cho phép phân biệt với trường hợp chưa phải là tội phạm.

Từ quy định tại Điều 182 BLHS 2015 về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng có thể rút ra các dấu hiệu định tội bao gồm: dấu hiệu khách thể của tội phạm, dấu hiệu chủ thể của tội phạm, dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm và dấu hiệu mặt chủ quan của tội phạm. Dấu hiệu khách thể của Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng 1 Khoản 1 Điều 2 Luật HN&GĐ năm 2014. 6 Khách thể của tội phạm là một trong bốn yếu tố CTTP và được hiểu là đối tượng bị tội phạm xâm hại. Hành vi phạm tội cũng giống như hành vi khác của con người, đều hướng vào đối tượng nhất định mà không phải để cải biến mà gây thiệt hại cho đối tượng đó.

Trong luật hình sự, đối tượng bị tội phạm hướng tới gây thiệt hại được gọi là khách thể của tội phạm. Như vậy, “khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại”. 2 Những quan hệ xã hội được coi là khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội được xác định tại Điều 8 của BLHS. Đồng thời những quan hệ xã hội này đã bị hành vi xâm hại bằng việc gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại.

Đối với Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng thì khách thể là chế độ một vợ, một chồng – một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ HN&GĐ mà Luật HN&GĐ quy định. Đây cũng là chế độ hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ quy định tại Điều 36 Hiến pháp năm 2013 “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em”.

Nguyên tắc này quy định người đang có vợ, có chồng bị cấm kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng bị cấm kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết là đang có vợ, có chồng. Hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng gây nên nhiều hậu quả, vừa xâm phạm đến quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ, vừa ảnh hưởng đến đời sống gia đình và những người xung quanh. Người vi phạm chế độ một vợ, một chồng là người vi phạm nguyên tắc một vợ, một chồng mà Hiến pháp năm 2013 cũng như Luật HN&GĐ năm 2014 quy định và bảo vệ. Đồng thời, hành vi này là hành vi trái đạo đức, trái với thuần phong mỹ tục lâu đời, phá vỡ nguyên tắc chung thủy trong hôn nhân của vợ chồng; tác động xấu đến đời sống của những thành viên trong gia đình, đảo lộn đời sống của cha mẹ, con cái.

Ảnh hưởng tiêu cực này đã được nhà làm luật đưa ra trong Điều 182 BLHS năm 2015: “làm cho quan hệ của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn”; “làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát”. 2 Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần chung, Nxb CAND, Hà Nội, 2018, tr.102 7 Có thể thấy việc vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã xâm hại đến quan hệ HN&GĐ, chế độ một vợ, một chồng, chế độ hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ. Sự xâm hại này phản ánh được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Vì thế, hành vi của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thì hành vi đó xâm hại trực tiếp đến quan hệ xã hội là chế độ một vợ, một chồng được pháp luật bảo vệ, trong đó có pháp luật hình sự.

Dấu hiệu mặt khách quan của Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng Mặt khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố của tội phạm. Đó là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. 3 Những biểu hiện thuộc mặt khách quan của tội phạm bao gồm hành vi khách quan có tính gây thiệt hại cho xã hội, hậu quả gây thiệt hại cho xã hội do hành vi khách quan gây ra, các điều kiện bên ngoài gắn liền với hành vi khách quan như công cụ, phương tiện, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội… Có thể thấy nếu không có mặt khách quan thì cũng sẽ không có các yếu tố khác của tội phạm và do vậy cũng không có tội phạm. Đối với Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng thì hành vi khách quan của tội phạm này được quy định là: Thứ nhất, hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác trong khi đang có vợ hoặc có chồng.

Trường hợp này đôi bên nam nữ hoặc đã tiến hành tổ chức theo tục lệ hoặc đã có giấy chứng nhận đăng kí kết hôn (giả mạo giấy tờ để được đăng kí) hoặc tuy không đăng kí kết hôn nhưng đã chung sống với nhau, tự coi nhau là vợ chồng trước gia đình và mọi người, thường được biểu hiện bằng việc có con chung, có tài sản chung; đã được gia đình, cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn duy trì quan hệ đó, … Thứ hai, hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ. Người đang có vợ, có chồng đã được quy định cụ thể tại Khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP. 3 Nguyễn Học Hòa (chủ biên), Giáo trình luật hình sự Việt Nam phần chung, Nxb CAND, Hà Nội, 2018, tr.116 8 Theo Khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC- VKSNDTC-BTP do Chánh án TANDTC – Viện trưởng VKSNDTC – Bộ trưởng Bộ Tư pháp ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì người đang có vợ hoặc có chồng là người thuộc một 01 trong các trường hợp sau đây: - Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết; - Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết; - Người đã kết hôn với người khác vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết. Tuy nhiên, việc người vợ hoặc người chồng trong hôn nhân hợp pháp có đồng ý hay không đồng ý cũng như người chồng hoặc người vợ trong hôn nhân không hợp pháp có biết hay không biết bên kia đang có vợ, có chồng đều không ảnh hưởng đến việc xác định hành vi khách quan của tội phạm.

Hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng chỉ bị coi là hành vi khách quan của tội phạm này khi thỏa mãn một trong hai dấu hiệu sau: Thứ nhất, làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn (Điểm a Khoản 1 Điều 182 BLHS năm 2015). Ly hôn là hậu quả của hành vi khách quan nói trên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ