Tổng quan nghiên cứu

Nguồn năng lượng hóa thạch hiện chiếm hơn 86% tổng nguồn cung cấp năng lượng sơ cấp trên toàn cầu, phục vụ phần lớn cho các phương tiện giao thông vận tải đường bộ. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ, mức tiêu thụ năng lượng thế giới duy trì mức tăng trưởng trung bình khoảng 2,3% mỗi năm; riêng khu vực Đông Nam Á đã ghi nhận mức tiêu thụ năng lượng gia tăng 60% trong 15 năm qua và dự báo sẽ tăng thêm 66% vào năm 2040. Thực trạng cạn kiệt tài nguyên dầu mỏ cùng áp lực suy thoái môi trường đã thúc đẩy hơn 50 quốc gia trên thế giới chuyển dịch mạnh mẽ sang nhiên liệu sinh học. Tại Việt Nam, thực hiện Thông báo kết luận số 255/TB-VPCP ngày 06/06/2017 của Văn phòng Chính phủ, từ ngày 01/01/2018, toàn quốc đã chính thức ngừng lưu thông xăng khoáng RON 92 truyền thống để chuyển sang sử dụng xăng sinh học E5 RON92 song hành cùng xăng khoáng RON 95.

Tuy nhiên, thực tế vận hành thương mại tại thị trường nội địa cho thấy xăng sinh học E5 RON92 chủ yếu được phối trộn trực tiếp từ 95% thể tích xăng khoáng RON 92 đạt chuẩn thương phẩm với 5% thể tích ethanol nhiên liệu. Quy trình này khiến trị số octane nghiên cứu của sản phẩm E5 thương phẩm trên thị trường đạt tới mức 93,2 - 93,5 đơn vị, vượt yêu cầu kỹ thuật tối thiểu từ 1,2 đến 1,6 đơn vị RON so với Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 8063:2015, tạo ra sự lãng phí rất lớn về mặt kinh tế cho các nhà máy lọc dầu. Mặt khác, áp suất hơi bão hòa của xăng khoáng thương phẩm thường dao động ở mức 75 kPa, khi kết hợp cùng 5% đến 10% ethanol sẽ đẩy áp suất hơi bão hòa của hỗn hợp xăng sinh học vượt ngưỡng trần 80 kPa, dẫn đến hiện tượng nghẽn nút hơi khi động cơ khởi động nóng, làm gia tăng thất thoát bay hơi ra môi trường và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cháy nổ trong tồn trữ, phân phối.

Nhằm giải quyết triệt để bài toán kỹ thuật và kinh tế trên, tác giả Trương Thị Thu Hà đã thực hiện đề tài nghiên cứu tại Trường Đại học Bách khoa – Đại học Đà Nẵng dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Trương Hữu Trì. Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xác định chính xác dải trị số RON tối thiểu và mức áp suất hơi bão hòa tối đa của xăng khoáng nền sản xuất từ các dòng cấu tử trung gian của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất để phối trộn với ethanol sinh học tạo ra sản phẩm E5 RON92, E5 RON95, E10 RON92 và E10 RON95 đáp ứng đầy đủ quy chuẩn QCVN 1:2015/BKHCN và tiêu chuẩn TCVN 8063:2015. Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm trong giai đoạn 2018 - 2019 với các mẫu xăng khoáng và cấu tử công nghệ của Công ty Cổ phần Lọc Hóa dầu Bình Sơn kết hợp khảo sát thực tế tại tỉnh Quảng Ngãi. Kết quả đề tài mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, giúp tối ưu hóa chi phí sản xuất tại Nhà máy Lọc dầu Dung Quất (công suất chế biến 6,5 triệu tấn dầu thô/năm), gia tăng sản lượng xăng thương phẩm RON 95 có giá trị thương mại cao, đồng thời hỗ trợ giảm thiểu 20% lượng phát thải khí độc hại carbon monoxide và hydrocarbon từ phương tiện cơ giới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết nhiệt động học dung dịch nhiên liệu đa cấu tử và lý thuyết hòa tan hỗn hợp hydrocacbon - cồn. Khi phối trộn ethanol phân cực vào hệ hydrocacbon xăng khoáng không phân cực, hiện tượng phá vỡ các liên kết hydro liên phân tử giữa các phân tử cồn diễn ra mạnh mẽ, dẫn đến sự gia tăng hoạt độ nhiệt động của các cấu tử nhẹ và tạo nên hiện tượng tăng áp suất hơi bão hòa phi tuyến tính. Bên cạnh đó, nghiên cứu ứng dụng mô hình tối ưu hóa quy hoạch tuyến tính để giải bài toán phân bổ nguồn lực công nghệ lọc dầu, kết nối cân bằng vật chất giữa các phân xưởng công nghệ với chất lượng sản phẩm đầu ra nhằm tìm kiếm hàm mục tiêu cực đại hóa lợi nhuận.

Hệ thống khái niệm kỹ thuật cốt lõi được áp dụng xuyên suốt gồm:

  • Trị số Octane nghiên cứu: Thước đo khả năng chống kích nổ của nhiên liệu trong buồng đốt động cơ xăng ở điều kiện vận hành vòng tua thấp.
  • Áp suất hơi bão hòa Reid: Chỉ số đo áp suất hơi sinh ra từ nhiên liệu lỏng ở nhiệt độ chuẩn 37,8 độ C, phản ánh độ bay hơi và xu hướng tạo nút hơi trong đường ống dẫn.
  • Xăng sinh học E5 và E10: Hỗn hợp nhiên liệu được pha trộn từ xăng khoáng nền với nồng độ cồn sinh học tương ứng là 4% đến 5% thể tích hoặc 9% đến 10% thể tích.
  • Chỉ số áp suất hơi mẻ trộn: Giá trị quy đổi tuyến tính theo lũy thừa 1,25 của áp suất hơi từng cấu tử nhằm tính toán chính xác giá trị áp suất hơi tổng thể của hỗn hợp xăng phối trộn.
  • Cấu tử phối trộn xăng: Các dòng sản phẩm trung gian gồm Reformate có trị số RON 102 từ phân xưởng reforming xúc tác liên tục, Isomerate có trị số RON 86 từ phân xưởng đồng phân hóa, RFCC Naphtha có trị số RON 92 từ phân xưởng cracking xúc tác tầng sôi, phân đoạn Naphtha chưng cất trực tiếp có trị số RON 72 và hỗn hợp khí hóa lỏng C4 có trị số RON 98.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thực nghiệm toàn diện gồm 48 bộ mẫu xăng khoáng phối chế (ký hiệu từ R1 đến R48) được thiết lập từ 5 dòng cấu tử công nghệ của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, kết hợp cùng nguồn ethanol nhiên liệu không biến tính nồng độ 99,8% thể tích cung cấp bởi Công ty Cổ phần Nhiên liệu Tùng Lâm và các mẫu xăng E5 thực tế thu thập trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Phương pháp lấy mẫu phân tầng đại diện được thực hiện trực tiếp tại hệ thống bồn chứa trung gian gồm TK-5105, TK-5106A/B, TK-5107, TK-5108A/B và TK-5112 trong các đợt vận hành thực tế ngày 13/05/2019 và ngày 23/06/2019. Cỡ mẫu 48 bộ công thức phối chế được lựa chọn để bao quát toàn bộ các biên độ biến thiên về RON từ 89,0 đến 94,5 và áp suất hơi bão hòa từ 50 kPa đến 75 kPa, đảm bảo độ bao phủ thống kê tin cậy cho mọi kịch bản vận hành nhà máy.

Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm được chuẩn hóa nghiêm ngặt theo các tiêu chuẩn quốc tế và Việt Nam hiện hành nhằm đảm bảo tính pháp lý và độ lặp lại cao:

  • Xác định trị số RON bằng phương pháp gõ trên động cơ chuẩn CFR Waukesha theo tiêu chuẩn ASTM D2699.
  • Xác định áp suất hơi bão hòa tự động ở nhiệt độ 37,8 độ C bằng thiết bị Herzog theo tiêu chuẩn ASTM D5191 ở dải áp suất từ 0 đến 1000 kPa nhằm kiểm soát sai số dưới 0,5 kPa.
  • Phân tích hàm lượng các hợp chất oxy và nồng độ cồn bằng hệ thống sắc ký khí GC số 6 trang bị đầu dò ion hóa ngọn lửa FID theo tiêu chuẩn ASTM D4815.
  • Đo hàm lượng nước vi lượng bằng phương pháp chuẩn độ điện lượng Karl Fischer theo tiêu chuẩn ASTM D6304 và ASTM E203 với ngưỡng phát hiện từ 20 đến 25.000 mg/kg.
  • Đo khối lượng riêng ở nhiệt độ 15 độ C bằng thiết bị đo tỷ trọng hiện số Anton Paar theo tiêu chuẩn ASTM D4052.
  • Ứng dụng phần mềm quy hoạch tuyến tính PrincepsLP để lập ma trận mô phỏng tối ưu hóa 3 chế độ vận hành nhà máy gồm chế độ tối đa hóa diesel, chế độ tối đa hóa xăng và chế độ tối đa hóa xăng không pha phân đoạn Naphtha chưng cất trực tiếp. Tiến trình nghiên cứu được triển khai đồng bộ từ tháng 01/2018 đến tháng 08/2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thực nghiệm đo đạc và phân tích trên các bộ mẫu phối chế đã mang lại các phát hiện kỹ thuật cốt lõi có giá trị khoa học và kinh tế cao:

Thứ nhất, mức độ tăng trị số RON của hỗn hợp tỷ lệ thuận chặt chẽ với hàm lượng ethanol pha thêm vào xăng khoáng nền. Khi khảo sát nồng độ ethanol bổ sung từ 1% đến 10% thể tích trên nền xăng RON 92 và RON 95, kết quả cho thấy cứ mỗi 1% thể tích ethanol bổ sung giúp trị số RON của hỗn hợp tăng trung bình từ 0,32 đến 0,38 đơn vị. Cụ thể, khi phối trộn 5% thể tích ethanol để tạo xăng E5, trị số RON tăng từ 1,5 đến 1,8 đơn vị; khi pha trộn 10% thể tích ethanol để tạo xăng E10, trị số RON tăng mạnh từ 3,2 đến 3,6 đơn vị.

Thứ hai, nghiên cứu đã chứng minh trị số RON tối ưu của xăng khoáng nền dùng để sản xuất xăng sinh học E5 RON92 chỉ cần nằm trong khoảng từ 90,8 đến 91,2 đơn vị (trung bình là 91,0 RON). Đối với xăng sinh học E5 RON95, trị số RON của xăng khoáng nền chỉ cần duy trì ở mức 93,5 đến 93,8 đơn vị. Việc điều chỉnh giảm trị số RON xăng nền xuống 91,0 vẫn đảm bảo sản phẩm E5 sau phối chế đạt mức RON từ 92,6 đến 92,8, hoàn toàn đáp ứng ngưỡng tối thiểu 92,0 theo TCVN 8063:2015 mà không gây lãng phí 1,2 đến 1,6 đơn vị RON dư thừa như phương thức phối trộn cũ.

Thứ ba, áp suất hơi bão hòa của hỗn hợp biến thiên phi tuyến tính rất mạnh ở dải nồng độ ethanol thấp. Khi pha từ 1% đến 5% thể tích ethanol vào xăng khoáng, giá trị RVP của hỗn hợp tăng vọt từ 6,5 kPa đến 8,2 kPa so với xăng khoáng ban đầu. Khi tiếp tục tăng hàm lượng ethanol từ 6% đến 10% thể tích, giá trị RVP có xu hướng chững lại và đạt trạng thái tiệm cận bão hòa.

Thứ tư, để đảm bảo sản phẩm xăng sinh học E5 và E10 không bị vượt quá giới hạn trần áp suất hơi bão hòa 80 kPa theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, áp suất hơi bão hòa của xăng khoáng nền xuất xưởng phải được kiểm soát chặt chẽ ở mức tối đa không vượt quá 72,0 đến 73,0 kPa.

Thảo luận kết quả

Hiện tượng tăng vọt áp suất hơi bão hòa ở nồng độ ethanol 5% được giải thích rõ ràng dưới góc độ nhiệt động học hóa học. Các phân tử ethanol có liên kết hydro liên phân tử mạnh; khi phân tán vào mạng lưới các phân tử hydrocacbon không phân cực của xăng nền, liên kết hydro giữa các phân tử ethanol bị phá vỡ, làm tăng đột ngột áp suất hơi riêng phần của các phân đoạn hydrocacbon nhẹ như butan, pentan và hexan. Trên đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa áp suất hơi bão hòa và hàm lượng cồn, đường cong RVP thể hiện độ dốc rất lớn ở khoảng nồng độ 1% đến 5% ethanol trước khi chuyển sang trạng thái nằm ngang ở dải 6% đến 10%. Bảng số liệu phân tích 48 mẻ trộn thực nghiệm cũng cho thấy nếu xăng khoáng gốc có RVP ở mức 75 kPa thì sau khi pha 5% ethanol, RVP của xăng E5 sẽ đạt mức 82,5 kPa, vi phạm quy chuẩn QCVN 1:2015/BKHCN.

So sánh với các nghiên cứu của Hiệp hội Nhiên liệu Tái tạo Hoa Kỳ và các nhà máy lọc dầu tại Thái Lan, kết quả của luận văn hoàn toàn đồng thuận về xu hướng nhiệt động nhưng mang tính đột phá khi giải quyết bài toán đặc thù cho các dòng cấu tử của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất. Việc giảm chỉ số RON của xăng nền từ 92,0 xuống 91,0 cho phép nhà máy cắt giảm tỷ lệ phối trộn dòng Reformate đắt tiền có RON 102 từ phân xưởng reforming xúc tác liên tục, đồng thời tăng cường sử dụng dòng Isomerate có RON 86 và phân đoạn Naphtha chưng cất trực tiếp có RON 72. Lượng Reformate tiết kiệm được sẽ chuyển dịch sang pha chế xăng khoáng thương phẩm RON 95, giúp gia tăng sản lượng xăng cao cấp thêm khoảng 15% đến 20%, tạo ra bước nhảy vọt về doanh thu và tối ưu hóa chi phí vận hành cho doanh nghiệp lọc dầu.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Công ty Cổ phần Lọc Hóa dầu Bình Sơn cần xây dựng và ban hành Tiêu chuẩn cơ sở cho dòng sản phẩm xăng khoáng nền chuyên dụng có trị số RON danh định từ 90,8 đến 91,2 và áp suất hơi bão hòa khống chế tối đa dưới 72,5 kPa; hoàn thiện toàn bộ thủ tục pháp lý để được Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng cấp Giấy chứng nhận hợp quy theo QCVN 1:2015/BKHCN và Thông tư 04/2017/TT-BKHCN trong thời gian 6 tháng tới.

Thứ hai, Khối Vận hành sản xuất tại Nhà máy Lọc dầu Dung Quất cần điều chỉnh công thức mẻ trộn trong phần mềm điều độ; chủ động giảm tỷ lệ phối trộn cấu tử hỗn hợp C4 có áp suất hơi cao 360 kPa xuống mức dưới 3,5% thể tích nhằm hạ áp suất hơi bão hòa của xăng nền, đồng thời ứng dụng hệ thống quang phổ cận hồng ngoại trực tuyến NIR để tự động giám sát và hiệu chỉnh trị số RON và RVP mẻ trộn theo thời gian thực với chu kỳ kiểm soát 24/7.

Thứ ba, kiến nghị Bộ Công Thương và Bộ Khoa học và Công nghệ xem xét bổ sung khung danh mục sản phẩm xăng nền chuyên dùng cho phối chế nhiên liệu sinh học vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; cho phép lưu thông dòng xăng nền có RON 91,0 giữa nhà máy lọc dầu và các đơn vị đầu mối phối trộn in-line như Petrolimex và PVOIL, đồng thời duy trì khoảng cách chênh lệch giá bán lẻ giữa xăng E5 RON92 và xăng RON 95 tối thiểu từ 1.500 đến 2.000 đồng/lít nhằm nâng tỷ trọng tiêu thụ xăng sinh học đạt mục tiêu 50% tổng lượng xăng toàn quốc.

Thứ tư, các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối cần nâng cấp hệ thống bể chứa và trạm phối trộn in-line tại các kho trung chuyển; trang bị các thiết bị kiểm tra nhanh độ ẩm và nồng độ ethanol đạt chuẩn ASTM D4815 và ASTM D6304, đảm bảo nguồn cồn nhiên liệu biến tính nhập kho luôn đạt nồng độ tối thiểu 92,1% thể tích và hàm lượng nước dưới 1,0% thể tích nhằm triệt tiêu nguy cơ phân tách pha lỏng trong quá trình phân phối ra thị trường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Các kỹ sư công nghệ, chuyên viên điều độ sản xuất và nhà quản lý tại các nhà máy lọc hóa dầu (Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn, các nhà máy chế biến Condensate). Luận văn cung cấp công thức tính toán mẻ trộn, phương pháp kiểm soát chỉ số RVP Index và mô hình quy hoạch tuyến tính LP để tối ưu hóa tỷ lệ các dòng cấu tử trung gian, tiết giảm chi phí sản xuất và nâng cao tỷ suất lợi nhuận.

Nhóm 2: Cán bộ kỹ thuật, giám định viên chất lượng tại các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối (Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam, Tổng công ty Dầu Việt Nam, Tổng công ty Xăng dầu Quân đội). Tài liệu cung cấp quy chuẩn kỹ thuật phối trộn in-line, các giải pháp ngăn ngừa hiện tượng nghẽn nút hơi RVP và quy trình kiểm soát độ ẩm chống tách lớp trong hệ xăng - cồn.

Nhóm 3: Các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý nhà nước thuộc Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng. Công trình mang đến cơ sở khoa học thực chứng để xây dựng, sửa đổi các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN, tiêu chuẩn TCVN cho xăng khoáng nền và hoạch định lộ trình chuyển dịch năng lượng từ E5 sang E10.

Nhóm 4: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc các chuyên ngành Kỹ thuật Hóa học, Công nghệ Lọc - Hóa dầu, Kỹ thuật Năng lượng và Môi trường. Luận văn là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp phân tích thực nghiệm chuyên sâu theo hệ thống tiêu chuẩn ASTM và kỹ thuật mô hình hóa toán học trong công nghệ hóa chất.

Câu hỏi thường gặp

Xăng khoáng nền chuyên dụng có điểm gì khác biệt so với xăng thương phẩm RON 92 thông thường? Xăng khoáng nền chuyên dụng được sản xuất với trị số RON tối ưu từ 90,8 đến 91,2 và áp suất hơi bão hòa khống chế tối đa 72,5 kPa. Sản phẩm này không dùng để nạp trực tiếp vào phương tiện mà được thiết kế chuyên biệt để khi phối trộn với 5% ethanol sẽ tạo ra xăng E5 RON92 có chất lượng đạt chuẩn TCVN 8063:2015, loại bỏ hiện tượng dư thừa 1,5 đơn vị RON gây lãng phí kinh tế.

Vì sao áp suất hơi bão hòa lại gia tăng đột biến khi pha thêm cồn ethanol vào xăng gốc? Khi đưa ethanol phân cực vào hydrocacbon không phân cực của xăng, các liên kết hydro giữa các phân tử ethanol bị phá vỡ hoàn toàn. Điều này làm tăng đột ngột áp suất hơi riêng phần của các hydrocacbon mạch ngắn như pentan, butan, khiến áp suất hơi bão hòa tổng thể tăng vọt từ 6,5 đến 8,2 kPa ngay ở tỷ lệ pha trộn thấp từ 1% đến 5% thể tích.

Việc giảm trị số RON của xăng gốc xuống mức 91,0 có gây ảnh hưởng tiêu cực đến động cơ xe máy và ô tô không? Hoàn toàn không gây bất kỳ tác động tiêu cực nào. Nhờ hiệu ứng tăng vọt octane của cồn sinh học, xăng khoáng nền có RON 91,0 sau khi hòa trộn 5% ethanol sẽ đạt trị số RON thành phẩm từ 92,6 đến 92,8, cao hơn ngưỡng tối thiểu 92,0 theo quy định. Động cơ vẫn hoạt động êm ái, phát huy tối đa công suất và giảm thiểu nguy cơ kích nổ buồng đốt.

Mô hình quy hoạch tuyến tính LP giải quyết bài toán phối trộn tại nhà máy lọc dầu như thế nào? Phần mềm PrincepsLP thiết lập hệ phương trình ma trận đa biến phản ánh giới hạn kỹ thuật của 5 dòng cấu tử công nghệ. Thuật toán tự động tìm kiếm phương án phối trộn có chi phí nguyên liệu thấp nhất nhưng vẫn thỏa mãn đồng thời các ràng buộc khắt khe về trị số RON, chỉ số áp suất hơi RVP Index, hàm lượng benzen dưới 2,5% thể tích và olefin dưới 38% thể tích.

Làm thế nào để phòng ngừa hiện tượng xăng sinh học E5 bị phân lớp tách nước trong quá trình lưu trữ? Doanh nghiệp cần kiểm soát nghiêm ngặt chất lượng ethanol nguyên liệu đạt nồng độ cồn tối thiểu 99,0% thể tích đối với cồn không biến tính, khống chế hàm lượng nước dưới 1,0% theo TCVN 10625. Đồng thời, các bồn chứa và đường ống phải được trang bị hệ thống thu gom cặn đáy kín, duy trì hàm lượng ẩm trong xăng thương phẩm dưới ngưỡng 0,15% thể tích.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập thành công cơ sở khoa học và thực nghiệm để khống chế trị số RON tối ưu của xăng khoáng nền ở mức 90,8 đến 91,2 đơn vị nhằm phối trộn tạo xăng sinh học E5 RON92 đạt chuẩn TCVN 8063:2015.
  • Nghiên cứu đã chứng minh ngưỡng giới hạn an toàn của áp suất hơi bão hòa đối với xăng khoáng nền là không vượt quá 72,5 kPa để ngăn ngừa triệt để nguy cơ vượt trần 80 kPa sau khi pha trộn ethanol.
  • Thực hiện thành công việc phân tích 48 bộ mẫu mẻ trộn thực nghiệm trên hệ thống thiết bị kiểm định hiện đại đạt chuẩn ASTM D2699, ASTM D5191, ASTM D4815, ASTM D6304 và ASTM D4052.
  • Ứng dụng xuất sắc mô hình quy hoạch tuyến tính LP tại Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, giúp tiết kiệm lượng lớn cấu tử Reformate quý giá để gia tăng sản lượng xăng thương phẩm RON 95 cao cấp từ 15% đến 20%.
  • Đóng góp giải pháp kỹ thuật thiết thực giúp giảm thiểu 20% phát thải khí độc hại CO và HC, gia tăng hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp lọc dầu và bảo vệ môi trường sinh thái.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp số liệu thực nghiệm tin cậy để Nhà máy Lọc dầu Dung Quất xây dựng Tiêu chuẩn cơ sở cho xăng khoáng nền chuyên dụng, mở đường cho việc hoàn thiện khung pháp lý cấp phép sản xuất xăng nền trên quy mô toàn quốc. Kế hoạch tiếp theo cần tập trung vào việc thử nghiệm mở rộng phối trộn dòng xăng sinh học E10 RON95 trên dây chuyền công nghiệp và tối ưu hóa chuỗi cung ứng cồn sinh học nội địa giai đoạn 2020 - 2025. Các nhà khoa học, chuyên gia lọc dầu và các đơn vị kinh doanh năng lượng hãy tham khảo và ứng dụng ngay những giải pháp công nghệ giá trị từ luận văn để đồng hành cùng sự phát triển bền vững của ngành năng lượng Việt Nam.