phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Vốn kinh doanh và việc tổ chức, sử dụng vốn kinh doanh trong Doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức, sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Bóng đèn phích nƣớc Rạng Đông. Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Bóng đèn phích nƣớc Rạng Đông. 4 z CHƢƠNG 1: VỐN KINH DOANH VÀ VIỆC TỔ CHỨC, SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1.VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.Vốn kinh doanh a.
Khái niệm vốn kinh doanh Vốn là yếu tố cơ bản và là tiền đề không thể thiếu của quá trình sản xuất, kinh doanh. Muốn tiến hành bất kỳ một quá trình SXKD nào cũng cần phải có VKD. Vốn đƣợc dùng để mua sắm các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất nhƣ: Sức lao động, đối tƣợng lao động và tƣ liệu lao động. VKD thƣờng xuyên vận động và tồn tại dƣới nhiều hình thức khác nhau trong các khâu của hoạt động SXKD.
Nó có thể là tiền, máy móc thiết bị, nhà xƣởng, nguyên vật liệu (NVL), bán thành phẩm, thành phẩm… khi kết thúc một vòng luân chuyển thì VKD lại trở về hình thái tiền tệ. Nhƣ vậy, với số vốn ban đầu, nó không chỉ đƣợc bảo tồn mà còn đƣợc tăng lên do hoạt động SXKD có lãi. Nhƣ vậy có thể hiểu: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản hữu hình và vô hình đƣợc đầu tƣ vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Những đặc trƣng chủ yếu của Vốn kinh doanh: - Vốn phải đại diện cho một lƣợng tài sản nhất định.
Nói cách khác, vốn là biểu hiện bằng giá trị của các tài sản trong DN. - Vốn phải đƣợc tập trung tích tụ đến một lƣợng nhất định mới có thể đầu tƣ vào SXKD. Đặc trƣng này đòi hỏi DN cần phải có kế hoạch huy động đủ lƣợng vốn cần thiết để có thể chớp thời cơ kinh doanh, mở rộng sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh cho DN. - Vốn có giá trị về mặt thời gian, tức là một đồng vốn tại thời điểm khác nhau có giá trị không giống nhau.
Đây là một đặc điểm mà các DN cần đặc biệt quan tâm nhất là khi xem xét, lựa chọn các phƣơng án đầu tƣ. 5 z - Vốn luôn vận động và sinh lời không ngừng tạo nên sự tuần hoàn và chu chuyển vốn.Phân loại vốn kinh doanh Vốn kinh doanh có thể đƣợc phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau cụ thể nhƣ sau: Căn cứ vào nguồn hình thành vốn: Về cơ bản, vốn kinh doanh đƣợc hình thành từ nguồn Vốn chủ sở hữu (VCSH) và nợ phải trả. - VCSH: Là phần vốn thuộc chủ sở hữu của DN, nó bao gồm vốn do chủ DN tự bỏ ra và phần vốn bổ sung đƣợc hình thành từ kết quả kinh doanh. VCSH tại một thời điểm = Giá trị tổng tài sản - Tổng nợ phải trả Trong đó, VCSH này sẽ bao gồm các khoản: + Với DN nhà nƣớc thì đó là nguồn vốn do Ngân sách nhà nƣớc cấp ban đầu và cấp bổ sung, còn với DN tƣ nhân thì nguồn vốn này do chủ DN bỏ ra khi thành lập DN.
Đối với Công ty cổ phần hoặc liên doanh thì nó sẽ bao gồm phần đóng góp của các chủ đầu tƣ hoặc các cổ đông. + Phần lợi nhuận để lại tái đầu tƣ sau các quá trình hoạt động SXKD của DN. - Nợ phải trả: Bao gồm các khoản đi vay của các cá nhân hay các tổ chức tín dụng dƣới mọi hình thức hoặc do phát hành trái phiếu, các khoản phải trả ngƣời bán, trả cho Nhà nƣớc, khoản ngƣời mua ứng trƣớc, phải trả cho lao động trong DN. Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn: Dựa trên tiêu thức này, VKD đƣợc chia làm hai loại: vốn cố định (VCĐ) và vốn lƣu động (VLĐ).
- Vốn cố định của doanh nghiệp Vốn cố định: Là số vốn doanh nghiệp ứng ra để hình thành nên Tài sản cố định (TSCĐ). Quy mô của VCĐ sẽ quyết định đến lƣợng TSCĐ đƣợc hình thành và ngƣợc lại, đặc điểm hoạt động của TSCĐ sẽ chi phối đặc điểm luân 6 z chuyển của VCĐ. Từ mối liên hệ này, ta có thể khái quát những đặc thù của VCĐ nhƣ sau: + VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD mà vẫn giữ nguyên hình thái hiện vật. Có đƣợc đặc điểm này là do TSCĐ tham gia vào phát huy tác dụng trong nhiều chu kỳ sản xuất.
Vì vậy VCĐ là hình thái biểu hiện bằng tiền của TSCĐ và cũng tham gia vào các chu kỳ sản xuất tƣơng ứng. + VCĐ đƣợc luân chuyển giá trị dần dần, từng phần trong các chu kỳ sản xuất. Khi tham gia vào quá trình sản xuất, TSCĐ không bị thay đổi hình thái hiện vật ban đầu nhƣng tính năng và công suất của nó bị giảm dần, tức là nó bị hao mòn và cùng với sự giảm dần về giá trị sử dụng, thì giá trị của nó cũng bị giảm đi, theo đó VCĐ đƣợc tách thành hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất tƣơng ứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ đƣợc luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm dƣới hình thức chi phí khấu hao và đƣợc tích luỹ lại thành quỹ khấu hao, sau khi sản phẩm hàng hoá đƣợc tiêu thụ, quỹ khấu hao này sẽ đƣợc sử dụng để tái sản xuất TSCĐ nhằm duy trì năng lực sản xuất của DN. Phần còn lại của VCĐ vẫn đƣợc "cố định" trong đó, tức là giá trị còn lại của TSCĐ.
Hình thái hiện vật của VCĐ là TSCĐ. Sau mỗi chu kỳ sản xuất, phần vốn đƣợc luân chuyển vào giá trị sản phẩm và đƣợc thu hồi dần dần tăng lên, song phần vốn đầu tƣ ban đầu vào TSCĐ lại dần dần giảm xuống. Kết thúc quá trình vận động đó cũng là lúc TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị của nó đƣợc chuyển dịch vào giá trị sản phẩm đã sản xuất và khi đó VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyển. VCĐ thƣờng có chu kỳ vận động dài, sau nhiều năm mới có thể thu hồi đủ số vốn đầu tƣ đã ứng ra ban đầu.
Trong thời gian dài nhƣ vậy, đồng vốn luôn bị đe doạ bởi những rủi ro, những nguyên nhân chủ quan và khách quan làm thất thoát vốn nhƣ: 7 z Do kinh doanh kém hiệu quả, sản phẩm làm ra không tiêu thụ đƣợc, do giá bán thấp hơn giá thành nên thu nhập không đủ bù đắp mức độ hao mòn TSCĐ. Do sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật làm cho mức độ hao mòn vô hình của TSCĐ vƣợt qua mức dự kiến về mặt hiện vật cũng nhƣ về mặt giá trị. Do yếu tố lạm phát trong nền kinh tế. Khi lạm phát xảy ra, giá trị thực của đồng vốn bị thay đổi, do đó đòi hỏi DN phải đánh giá và điều chỉnh lại giá trị tài sản để tránh tình trạng mất VKD theo tốc độ lạm phát trên thị trƣờng.
+ VCĐ hoàn thành một vòng luân chuyển sau nhiều chu kỳ kinh doanh. Trong các DN, VCĐ là một bộ phận quan trọng và chiếm tỷ trọng tƣơng đối lớn trong toàn bộ vốn đầu tƣ nói riêng, vốn sản xuất kinh doanh nói chung. Quy mô của VCĐ và trình độ quản lý sử dụng nó là nhân tố ảnh hƣởng quyết định đến trình độ trang bị kỹ thuật của SXKD. Do ở một vị trí then chốt và đặc điểm luân chuyển của nó lại tuân theo tính quy luật riêng, nên việc quản lý VCĐ có ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của DN.
- Vốn lưu động của doanh nghiệp: Vốn lƣu động của doanh nghiệp là số vốn bằng tiền đƣợc ứng ra để hình thành các tài sản lƣu động. Tài sản lƣu động (TSLĐ) sản xuất bao gồm ở khâu dự trữ sản xuất nhƣ: Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ… TSLĐ ở khâu sản xuất nhƣ sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm. Các TSLĐ ở khâu lƣu thông bao gồm các sản phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trƣớc… Trong quá trình SXKD, các TSLĐ sản xuất và TSLĐ lƣu thông luôn vận động thay thế và đổi chỗ cho nhau đảm bảo quá trình hoạt động SXKD đƣợc tiến hành liên tục và thuận lợi. Khác với TSCĐ, trong quá trình SXKD, TSLĐ của DN luôn luôn thay đổi hình thái biểu hiện để tạo ra sản phẩm, hàng hoá.
Do đó, phù hợp với các đặc 8 z điểm của TSLĐ, vốn lƣu động của DN cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: Dự trữ sản xuất, sản xuất và lƣu thông. Quá trình này đƣợc diễn ra liên tục và thƣờng xuyên lặp lại theo chu kỳ và đƣợc gọi là quá trình tuần hoàn chu chuyển của VLĐ. Ta có sơ đồ chu chuyển VLĐ: Dự trữ Tiền Nguyên vật liệu Sản xuất Sản phẩm Tiền’ Lao động Trong quá trình vận động, VLĐ luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần, qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, VLĐ lại thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyển sang hình thái vốn vật tƣ hàng hoá dự trữ. Qua giai đoạn sản xuất, vật tƣ đƣợc đƣa vào chế tạo thành các bán thành phẩm và thành phẩm, sau khi sản phẩm đƣợc tiêu thụ, VLĐ lại trở về hình thái tiền tệ nhƣ điểm xuất phát ban đầu của nó.
Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, VLĐ mới hoàn thành một vòng chu chuyển. Trong các DN, quá trình SXKD luôn diễn ra một cách thƣờng xuyên, liên tục cho nên có thể thấy trong cùng một lúc, VLĐ của DN đƣợc phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dƣới nhiều hình thức khác nhau. Muốn cho quá trình sản xuất đƣợc liên tục, DN phải có đủ VLĐ đầu tƣ vào các hình thái khác nhau nó đảm bảo cho việc chuyển hoá hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển đƣợc thuận lợi. Từ những đặc điểm của VLĐ đã đƣợc xem xét ở trên đòi hỏi việc quản lý và tổ chức sử dụng VLĐ cần chú trọng giải quyết một số vấn đề sau: + Xác định nhu cầu VLĐ thƣờng xuyên, cần thiết tối thiểu cho hoạt động SXKD của DN đảm bảo đủ VLĐ cho quá trình SXKD.
+ Tổ chức khai thác nguồn vốn tài trợ VLĐ, đảm bảo đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động SXKD của DN.