CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Khái quát về họ Sim Myrtaceae Cây vối có tên khoa học là Cleistocalyx operculatus Roxb, thuộc chi Cleistocalyx, họ Sim Mytaceae. Các cây thuộc họ Sim thường mọc xen lẫn với các cây gỗ khác thành đai rừng nhiệt đới, ít khi mọc thuần loại. Họ Sim phân bố ở các vùng rừng nhiệt đới và Á nhiệt đới, chủ yếu ở châu Mỹ và châu Úc.
Họ Sim là một họ lớn gồm 90 chi và 3000 loài, cây thuộc họ Sim có đặc điểm thực vật như sau: Cây gỗ lớn, cây nhỡ hoặc cây bụi. Lá đơn, hoặc mép có khía răng, lá thường mọc đối nhau và có tuyến mỡ. Hoa mọc thành cụm ở nách hay ở đầu cành, có hình xim hoặc hình chùm. Hoa đều lưỡng tính.
Đài hình ống dính hoàn toàn vào bầu hay chỉ dính một ít. Lá đài gồm 4-5 cánh xếp lợp vào nhau, ít có ống dài nguyên. Nhị xếp thành một hay nhiều dãy rời nhau hoàn toàn hoặc dính ở gốc thành ống ngăn, bao phấn đính ở lưng hay gốc. Đĩa mật không có hay nếu có thì hình vành khăn, che kín ở phía gốc vòi.
Bầu hoàn toàn hạ hay hạ một phần, có 4-5 ô hay nhiều hơn; vòi đơn kéo dài, đầu tròn, rất ít khi chia 3-4 thuỳ; trong bầu thì noãn xếp thành hai hay nhiều dãy. Quả nang hoặc thịt, có sợi và thường được bọc kín bởi ống đài. Trong quả thường có 1 hạt, hạt có nội nhũ, phôi thẳng hay cong, đôi khi nạc với hai lá mầm không xa nhau. Tổng quan về chi Cleistocalyx [6,9] Chi Cleistocalyx là một chi tương đối lớn của họ Sim.
Ngoài đặc điểm chung của họ sim, các loài cây thuộc chi Cleistocalyx còn có đặc điểm thực vật 13 riêng: Quả nạc, khi chín không nở. Vòi không có lông, ô quả không có vách ngang chia thành ô nhỏ, ống đài nguyên hay rách bất định, đài nguyên thành mũ, quả mập có một hạt. Cụm hoa xim hay chùy. Sau đây là giới thiệu một số cây đại diện thuộc chi Cleistocalyx thường thấy ở Việt Nam.
Cleistocalyx circumcissa Tên ở Việt Nam: Trâm Ô. Đặc điểm thực vật: Cây đại mộc cao 15m, nhánh mảnh, lá có phiến xoan thon, dài 4-7cm, chót có mũ, có đốm trong gân phụ, rất mảnh, nụ cao 13mm, rộng 3mm, phần của đài và cánh hoa làm thành một lớp rụng sớm với nhị, noãn gồm 3 buồng, quả mập. Phân bố: Rừng Biên Hoà 1. Cleistocalyx nigrans Tên Việt Nam: Trâm lá đen Đặc điểm thực vật: Cây đại mộc nhỏ, nhánh vàng đỏ.
Lá có phiến bầu dục, màu nâu đen trên mặt lúc khô, gân phụ cách nhau 2-3mm, cuống dài 1cm. Chùm tụ tán cao 6cm ở ngọn nhánh, hoa trắng, nụ dài 5mm, hoa 5 cánh rụng 1 lượt, tiểu nhị nhiều. Quả mập tròn, lúc khô đen, to hơn 1cm, một hạt. Phân bố: Rừng Bình Dương, Thủ Đức.
Cleistocalys nervosum Tên Việt Nam: Trâm nấp vối. Đặc điểm thực vật: Cây đại mộc trung, nhánh non dẹp, không lông. Lá có phiến bầu dục thon, dài 12-13cm, có đốm nâu, gân phụ vào 10 cặp, gân cách bìa 3-5mm. Phát hoa ở nách lá rụng, cao 5-8cm, đài hình đĩa hơi đứng, nắp cao; hoa có 4 cánh, cao 3mm, có nhiều tiểu nhụy.
Phì quả tròn hay dài, to 7-14mm, đỏ hoặc đỏ đen chói, nạc ngọt, một hạt. Phân bố: Rừng và Bắc Trung Nam. Cleistocalyx rehnervinus Tên Việt Nam: Vối gân mạng Đặc điểm thực vật: Cây đại mộc nhỏ, nhánh tròn xám, to 2-3mm. Lá có phiến bầu dục đến trái xoan, to 9-14 x 5,5-7cm chót lá rộng, đáy tròn gân phụ mịn, cách nhau 4-8mm, gân cách bìa 2-3mm.
Phát hoa ở lá và ngọn. Hoa như không cọng, cao 7mm, đài rụng thành chóp, tiểu nhụy nhiều. Trái tròn, to 1.5mm, lùm bụi. Cleistocalyx consperipuactatus Tên Việt Nam: Vối nước Đặc điểm thực vật: Cây gỗ thường xanh, cao 20-25m.
Vỏ dày 6- 8mm, màu xám trắng hay nâu đen nhạt. Cành non màu nâu xám, hình vuông, lúc già hình cột tròn. Lá đơn, mọc đối, hình bầu dục dạng trứng ngược dài 6-12cm, rộng 2,5- 5,5cm, đầu tròn tù. Hoa mọc cụm, sinh ra đầu cành.
Hoa lưỡng tính, đài đính thành 1 thể dạng mũ, lúc nở hoa rụng dạng vòng. Nhiều nhị, rời nhau, lúc chồi hoa cong vào. Quả mọng hình cầu hay hình trứng, lúc chín có màu nâu tím. Một năm có 2 mùa hoa nở vào tháng 3 và giữa tháng 7.
Phân bố: Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình-Trị-Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng, GiaLai, KonTum. Tìm hiểu chung về cây vối 1. Đặc điểm thực vật Cây nhỡ, cao 5-6 m có khi hơn, cành non, tròn hay hơi hình 4 cạnh, nhẵn. Lá có cuống, dài 8-20 cm, hình trứng, rộng 5-10 cm.
Hai mặt lá có những đốm màu nâu, cuống dài 1-1, 5cm. Hoa gần như không có cuống, màu lục trắng nhạt 15 hợp thành cụm hoa hình tháp toả ra ở những lá đã rụng. Quả hình cầu hay hơi hình trứng, đường kính 7-12cm, xù xì. Toàn lá, cành non, và nụ vối có mùi thơm đặc biệt dễ chịu của vối.
Phân bố Cây vối được trồng và mọc hoang ở khắp các tỉnh nước ta, chủ yếu để lấy lá ủ nấu nước uống. Vối còn thấy ở các nước nhiệt đới châu Á, Trung Quốc [3, 4]. Ứng dụng của cây vối Vối được trồng để lấy gỗ dùng trong xây dựng, làm công cụ, vỏ có chất dùng để nhuộm đen. Quả vối ăn được.
Lá vối tươi đem thái nhỏ, rửa sạch nhựa rồi cho vào thùng ủ cho đến khi đen đều thì lấy ra rửa sạch, phơi khô dùng để nấu làm nước uống rất thông dụng ở nông thôn Việt Nam. Nụ và hoa thu hái vào vào tháng tư hoặc tháng sáu dương lịch cũng được pha làm trà uống. Kinh nghiệm dân gian thường phối hợp lá vối với lá Hoắc hương làm nước uống lợi tiêu hóa. Nước sắc đậm đặc của lá cây dùng như thuốc sát trùng, để rửa mụn nhọt, lở loét, ghẻ.
Lá, vỏ thân, hoa còn 16 dùng làm thuốc chữa bệnh đầy bụng, khó tiêu, mụn nhọt, viêm đại tràng mãn tính, ly trực trùng [3, 4, 5]. Năm 2003, Đào Thị Thanh Hiền, trường ĐH Dược Hà Nội và những người khác đã tiến hành thử nghiệm nghiên cứu một số tác dụng của cây vối. Kết quả cho thấy: Tính kháng khuẩn của lá vối, đặc biệt là lá vối ủ có tác dụng rất tốt trên vi khuẩn E.coli, là loại vi khuẩn thường gây ra bệnh đường ruột, và hai vi khuẩn Gr (+) và Gr (-) thường gặp ở bệnh viêm da. Điều này làm sáng tỏ việc uống nước sắc lá vối để chữa bệnh tiêu chảy và tắm nước sắc lá vối để chữa bệnh viêm da của nhân dân.
Nước sắc lá vối ủ có tác dụng lợi mật rất mạnh, kết quả này góp phần giải thích được vì sao nhân dân ta thường uống nước sắc lá vối để chữa bệnh đầy bụng, khó tiêu. Kết quả thử tác dụng độc tế bào của mẫu chiết từ lá vối bước đầu cho thấy cả tinh dầu và cao thô toàn phần đều có khả năng ức chế sự phát triển tế bào ung thư (Ung thư gan, ung thư màng tim, ung thư tử cung…). Điều này mở ra hướng nghiêm cứu mới đối với dược liệu lá vối. Năm 1986, Nguyễn Đức Minh, phòng đông y thực nghiệm Viện nghiên cứu đông y đã tiến hành nghiên cứu thăm dò tính chất kháng sinh của lá và nụ cây vối đối với một số vi khuẩn Gram (+) và Gr (-) đã đi tới kết luận rằng: Ở tất cả các giai đoạn phát triển của cây, lá và nụ vối đều có tác dụng kháng sinh, vào mùa đông, tính kháng sinh cao nhất ở lá và hoàn toàn không độc đối với cơ thể [7].
17 Đặc biệt năm 2002, một nhóm nhà khoa học Trung Quốc đã công bố kết quả ngiên cứu về cây vối: Nước chiết của nụ vối là thành phần của nước uống bổ dưỡng trợ tim, làm giảm khả năng nhiễm bệnh. Thành phần hóa học 1. Thành phần hóa học của tinh dầu nụ hoa vối Năm 1994, Lê Thị Anh Đào, Nguyễn Xuân Dũng và Hoàng Văn Lựu đã nghiên cứu thành phần hóa học của tinh dầu vối [10] ở các địa phương khác nhau của tỉnh Nghệ An, thu được những kết quả như sau: Hàm lượng tinh dầu dao động trong khoảng 0,1-0,4%. Hàm lượng tinh dầu vối ở Quế Phong (0,4%) là cao nhất.
Thấp nhất là tinh dầu vối ở thành phố Vinh (0,1%). Trong các bộ phận khác nhau của cây vối thì hàm lượng dầu cao nhất tập trung ở nụ hoa (0,48%), trong đó hoa đã nở lượng tinh dầu giảm dần (0,28%) và ít nhất trong hoa già (0,18%).1: Hàm lượng tinh dầu vối ở các địa phương của Nghệ An Đối tượng nghiên cứu Địa điểm Hàm lượng (%) Lá vối Thành phố Vinh 0,10 Huyện Hưng Nguyên 0,18 Nụ vối Tây Nghi Lộc 0,20 Hoa mới nở Huyện Nam Đàn 0,21 Nụ hoa Huyện Tân Kỳ 0,24 Hoa nở sau 2 ngày Huyện Quế Phong 0,40 Hoa già Thành phố Vinh 0,48 Thành phố Vinh 0,28 Thành phố Vinh 0,18 Thành phần hóa học của tinh dầu vối được chỉ ra trong bảng dưới đây Bảng 1.2: Thành phần hóa học của tinh dầu vối Hoa vối Lá Nụ vối Hoa già Stt Tên chất (nụ + hoa ) (%) (%) (%) (%) 1 α-Thujen 0,1 Vết Vết Không có 2 α-Pinen 1,8 3,2 2,4 3,7 3 Camphen Vết Vết Vết Không có 4 Sabinen 0,2 Không có Không có Vết 5 β-Pinen 2,9 0,3 0,2 0,6 19 6 β-Myrcen 32,3 35,1 38,0 24,6 7 p-Cymem 0,1 Vết Vết Vết 8 Limonen 2,4 0,2 Vết 0,3 9 (Z)-β-oxymen 29,1 34,6 32,5 32,1 10 (E)-β-oxymen 12,0 13,3 12,3 9,4 11 Tecpinolen 0,1 Không Không có Vết 12 Linalool 0,7 0,1 0,5 0,5 13 Perilen Vết Vết 0,1 Vết 14 Neo-allocymen 0,9 1,4 0,5 1 15 Tecpinen-4-ol Vết Không có Không có Không có 16 α-Tecpineol 0,1 Vết 0,3 Không có 17 Nerylaxetat Vết Vết Vết 0,2 18 Geranylaxetat 0,2 0,2 0,1 0,7 19 α-Copanen Vết Vết 0,2 Vết 20 α-Gurunen Vết Vết 0.2 Không có 21 β-Caryophyllen 5,3 4,6 4,2 14,5 22 Bergamoten 1,5 1,2 2,0 Không có 23 α-Humuluen 1,1 1,1 0,6 2,7 24 Allo-oxymen 0,3 Vết Vết 0,3 25 Germacen 0,4 0,3 0,1 0,4 20 26 β-Selinen 0,8 0,4 Vết 0,1 27 Ledren Vết 1,0 0,1 1,0 28 Murenoen Vết Vết Vết Vết 29 γ-Cadinen 0,1 Vết Vết 0,3 30 δ-Cadinen Vết Vết Vết Vết 31 Calamen 0,4 0,3 Vết 0,6 32 Epiglobilol 0,1 0,1 0,1 Không có 33 (Z)-nerolidol 0,3 Không có Không có 0,2 34 (E)-nerolidol Không có 0,4 0,2 Không có 35 Caryophylenoxit 1,8 0,5 1,2 2,9 36 Globulot 0,2 Không có 0,1 Không có 37 Cembren, MW=272 0,5 0,3 0,3 Không có Các chất chưa nhận 38 4,2 0,7 3,5 3,8 biết Qua Bảng 1, 2 nhận thấy thành phần chính của tinh dầu vối là : 1) β-myrcen 24,6% (Trong lá); 32,3% (Trong nụ hoa vối); 35,1% (Trong nụ); 38% (Trong hoa già). 5) α-pinen dao động trong khoảng 1,8-3,7%. Trong lá cao nhất là 3,7%.