Khóa luận tốt nghiệp luật học tội nhận hối lộ theo quy định của luật hình sự việt nam nghiên cứu so sánh với luật hình sự australia

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp luật học tội nhận hối lộ theo quy định của luật hình sự việt nam nghiên cứu so sánh với, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Chuyên ngành

Luật hình sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

65
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và đặc điểm của tội nhận hối lộ theo luật Việt Nam

Tội nhận hối lộ là một trong những hành vi phạm tội nghiêm trọng được quy định tại Điều 354 Bộ luật Hình sự Việt Nam. Đây là hành vi của công chức, người làm công ích nhận tiền hoặc tài sản có giá trị với mục đích lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện những việc vượt quá quyền hạn hoặc trái pháp luật. Tội nhận hối lộ không chỉ làm suy yếu lòng tin của nhân dân vào các cơ quan nhà nước mà còn ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế và xã hội. Theo thống kê, tội nhận hối lộ tiếp tục là vấn đề nóng bỏng gây báo động toàn cầu. Việc hiểu rõ quy định pháp luật về tội nhận hối lộ là cần thiết để phòng ngừa và xử lý hiệu quả các hành vi tham nhũng.

1.1. Định nghĩa tội nhận hối lộ theo pháp luật Việt Nam

Theo Bộ luật Hình sự 2015, tội nhận hối lộ là hành vi của công chức nhà nước, người làm công ích nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác nhằm lợi dụng chức vụ, quyền hạn. Đối tượng của tội nhận hối lộ bao gồm cán bộ, công chức, người làm công ích. Hình phạt dao động từ 1-5 năm tù, tùy vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.

1.2. Các yếu tố cấu thành tội nhận hối lộ

Cấu thành tội phạm về nhận hối lộ bao gồm: chủ thể là công chức, cán bộ nhà nước; hành vi khách quan là nhận tiền/tài sản; phương tiện phạm tội là hối lộ; lỗi chủ quan là cố ý. Tính chất tội nhận hối lộ được phân chia theo mức độ: nhận hối lộ thườngnhận hối lộ có tính chất đặc biệt khi tài sản là của Nhà nước hoặc liên quan đến lợi ích quốc gia.

II. Quy định về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Australia

Luật hình sự Australia có quy định chi tiết và khác biệt so với Việt Nam về tội nhận hối lộ. Tại Australia, tội nhận hối lộ được xem là một hành vi tham nhũng nghiêm trọng được quy định rõ ràng trong các bộ luật tiểu bang và luật liên bang. Pháp luật Australia chú trọng vào việc bảo vệ lợi ích công cộngtính minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Khác với Việt Nam, Australia áp dụng tiêu chuẩn khác biệt về chủ thể và hình phạt đối với tội nhận hối lộ. Hệ thống pháp luật Australia thể hiện sự nghiêm khắc trong xử lý các hành vi tham nhũng, với hình phạt tù lên đến 10-15 năm tùy vào mức độ. Nghiên cứu so sánh quy định về tội nhận hối lộ giữa hai quốc gia giúp cải thiện khung pháp luật Việt Nam.

2.1. Khái niệm và chủ thể của tội nhận hối lộ theo Australia

Tại Australia, tội nhận hối lộ áp dụng cho công chức liên bang, công chức tiểu bang, cán bộ chính phủ, người tư nhân. Luật hình sự Australia có phạm vi áp dụng rộng hơn Việt Nam, bao gồm cả hành vi nhận hối lộ của người không phải công chức trong một số tình huống. Định nghĩa tội nhận hối lộ ở Australia nhấn mạnh ý định làm tổn hại lợi ích công cộng. Hình phạt tối đa lên đến 15 năm tù cộng với phạt tiền lớn.

2.2. So sánh giữa luật Việt Nam và Australia về tội nhận hối lộ

So sánh pháp luật hình sự: Việt Nam tập trung vào chủ thể công chức, trong khi Australia mở rộng sang người tư nhân. Hình phạt ở Australia cao hơn Việt Nam (10-15 năm vs 1-5 năm). Australia có quy định rõ ràng về yếu tố chủ quaný định phạm tội. Cả hai quốc gia đều **coi nhận hối lộ là hành vi tham nhũng nghiêm trọng cần xử lý kỷ luật hành chính, hình sự.

III. Bài học kinh nghiệm từ pháp luật Australia

Pháp luật hình sự Australia cung cấp nhiều bài học kinh nghiệm quý báu trong cuộc đấu tranh chống tội nhận hối lộtham nhũng nói chung. Trước hết, mô hình pháp luật Australia thể hiện sự minh bạch, rõ ràng trong định nghĩa các yếu tố cấu thành tội nhận hối lộ. Thứ hai, hệ thống pháp luật Australia áp dụng hình phạt tù nặng kết hợp với phạt tiền, tước quyền, đối với những người phạm tội nhận hối lộ. Thứ ba, Australia chú trọng vào phòng ngừa tội phạm thông qua giáo dục, nâng cao ý thức của cán bộ và cộng đồng. Những bài học kinh nghiệm này có thể được áp dụng để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về xử lý tội nhận hối lộ một cách hiệu quả, công bằng.

3.1. Tiêu chuẩn pháp luật và định nghĩa rõ ràng

Australia sử dụng tiêu chuẩn pháp luật rõ ràng, dễ hiểu về tội nhận hối lộ. Định nghĩa chi tiết các yếu tố như hành vi khách quan, ý định, lợi ích công cộng. Việt Nam cần hoàn thiện định nghĩa tài sản của Nhà nước trong tính chất tăng nặng của tội nhận hối lộ. Tiêu chuẩn rõ ràng giúp công chức hiểu rõ giới hạn pháp luật, từ đó giảm thiểu hành vi vi phạm.

3.2. Hình phạt và biện pháp phòng ngừa hiệu quả

Hình phạt nặng ở Australia (10-15 năm tù) phát huy tác dụng phòng ngừa đối với tội nhận hối lộ. Kết hợp hình phạt tù, phạt tiền, tước quyền tạo hiệu quả xử lý cao. Australia cũng chú trọng giáo dục, nâng cao ý thức của công chức. Việt Nam cần tăng cường hình phạtphát triển chương trình phòng ngừa tội phạm toàn diện.

IV. Kiến nghị hoàn thiện quy định về tội nhận hối lộ theo luật Việt Nam

Để hoàn thiện pháp luật về tội nhận hối lộ, Việt Nam cần áp dụng một số kiến nghị quan trọng dựa trên bài học kinh nghiệm từ Australia và thực tiễn áp dụng pháp luật. Thứ nhất, cần quy định rõ ràng chủ thể của tội nhận hối lộ, đặc biệt là trong khu vực tư nhân. Thứ hai, cần bổ sung hành vi "đòi hối lộ" vào tội nhận hối lộ. Thứ ba, cần giải thích khái niệm "tài sản của Nhà nước" trong các tình tiết tăng nặng. Thứ tư, cần bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với tội nhận hối lộ. Thứ năm, cần nâng cao hình phạt để phát huy tác dụng phòng ngừa. Những kiến nghị này sẽ giúp cải thiện hiệu quả xử lý tội nhận hối lộchống tham nhũng hiệu quả hơn.

4.1. Quy định rõ ràng chủ thể và mở rộng phạm vi áp dụng

Cần quy định chi tiết chủ thể của tội nhận hối lộ bao gồm công chức, cán bộ, người làm công ích. Nên mở rộng áp dụng sang người tư nhân khi thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Cần ban hành văn bản hướng dẫn để xác định rõ ràng chủ thể trong khu vực tư nhân. Điều này giúp bao quát toàn diện các hành vi tham nhũng, nhận hối lộ trong xã hội.

4.2. Tăng cường hình phạt và trách nhiệm pháp nhân thương mại

Cần nâng cao mức hình phạt tù từ 1-5 năm lên 3-10 năm, bắt chước mô hình Australia. Nên bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với tội nhận hối lộ. Cần kết hợp hình phạt tù, phạt tiền, tước quyền để tăng hiệu quả xử lý. Cần phát triển chương trình nâng cao ý thức cho cán bộ, công chức về hành vi nhận hối lộ.

11/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI NHẬN HỐI LỘ VÀ MỘT SỐ HẠN CHẾ BẤT CẬP 1. Tội nhận hối lộ theo quy định của luật hình sự Việt Nam Tội nhận hối lộ hiện nay được quy định tại Điều 354 BLHS năm 2015, cụ thể như sau: “Điều 354. Tội nhận hối lộ 1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000 đồng đến dưới 100.000 đồng hoặc dưới 2.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; b) Lợi ích phi vật chất.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Có tổ chức; b) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn; c) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000 đồng đến dưới 500.000 đồng; d) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000 đồng; đ) Phạm tội 02 lần trở lên; e) Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước; g) Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm: a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 500.000 đồng đến dưới 1.000 đồng; b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000 đồng đến dưới 5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 1.000 đồng trở lên; b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000 đồng trở lên. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà nhận hối lộ, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này” Theo đó, Điều 354 BLHS đã quy định rõ các dấu hiệu xác định tội phạm nhận hối lộ bao gồm: dấu hiệu về chủ thể của tội phạm, dấu hiệu về hành vi khách quan của tội phạm, dấu hiệu về phương tiện phạm tội, dấu hiệu về lỗi của người phạm tội và dấu hiệu về hình phạt đối với người phạm tội. Đây là những vấn đề cần làm rõ để có thể truy cứu TNHS đối với người phạm tội nhận hối lộ trên thực tế. Quy định về chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội phạm là người có năng lực TNHS bao gồm năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành vi và đạt độ tuổi chịu TNHS theo luật định khi thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài năng lực TNHS, chủ thể của một số tội phạm còn đòi hỏi thêm dấu hiệu đặc biệt khác vì chủ thể chỉ có thể 8 thực hiện hành vi phạm tội khi có những dấu hiệu đó.

Đối với tội nhận hối lộ, các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm là dấu hiệu quan trọng nhất để xác định hành vi phạm tội, là dấu hiệu phân biệt sự khác nhau giữa tội nhận hối lộ với các tội phạm khác do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện. Khoa học luật hình sự Việt Nam gọi đây là chủ thể đặc biệt của tội phạm. Đó là chủ thể mà ngoài hai đặc điểm là có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự còn đòi hỏi phải có thêm đặc điểm về nhân thân thì mới có thể thực hiện được hành vi phạm tội được mô tả trong cấu thành tội phạm. Tại khoản 2 Điều 3 Luật Phòng chống tham nhũng 2018 đã quy định về khái niệm người có chức vụ, quyền hạn: “Người có chức vụ, quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó…”.

Theo đó người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân công an trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức; Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó. Khoản 2 Điều 352 BLHS quy định về khái niệm tội phạm về chức vụ: “Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ”. “Công vụ” được hiểu là hoạt động thực hiện các nhiệm vụ công phục vụ nhà nước và nhân dân do đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước hoặc những người khác khi được nhà nước trao quyền 9 thực hiện. Công vụ bao gồm các công việc mang tính nhà nước vì lợi ích xã hội, lợi ích nhà nước và lợi ích chính đáng của công dân.

“Nhiệm vụ” là một công việc, trách nhiệm hoặc bổn phận mà một cá nhân hoặc tổ chức phải thực hiện hoặc hoàn thành trong một khoảng thời gian cụ thể. Nhiệm vụ có thể liên quan đến các mục tiêu, yêu cầu cụ thể mà người thực hiện cần đạt được, và nó thường được giao phó bởi cấp trên, cơ quan, hoặc tổ chức. Với việc bổ sung dấu hiệu thực hiện “công vụ”, “nhiệm vụ”, quy định này đã mở rộng phạm vi chủ thể của tội phạm về chức vụ bao gồm cả những người có chức vụ quyền hạn thực hiện công vụ nhà nước giao và những người có chức vụ trong các cơ quan, tổ chức ngoài nhà nước. Ngoài ra, quy định tại khoản 6 Điều 354 BLHS năm 2015: “Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà nhận hối lộ, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này.” Theo đó, chủ thể thực hiện tội nhận hối lộ “không chỉ là người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan nhà nước mà còn có thể là người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan, tổ chức ngoài nhà nước”.4 Như vậy chủ thể của tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt nam là người từ đủ 16 tuổi trở lên và không thuộc trường hợp trong tình trạng không có năng lực TNHS và là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức Nhà nước và trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước, công chức nước ngoài, công chức của các tổ chức quốc tế công.

Quy định về hành vi khách quan của tội phạm Theo bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 thì “Hành vi khách quan của tội nhận hối lộ là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất lỳ lợi ích nào cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.”5 Đặc trưng của mặt khách 4 Nguyễn Việt Hương (2016), “Những điểm mới, những bất cập của quy định về các tội phạm tham nhũng trong Bộ luật Hình sự năm 2015”, Tạp chí Luật học, (số đặc biệt về Bộ luật Hình sự năm 2015), tr.TS Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên) (2018), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Phần các tội phạm), Quyền 2, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr.615 10 quan của tội phạm này là hành vi nhận hối lộ bằng thủ đoạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn. Lợi dụng chức vụ là việc sử dụng quyền hạn, vị trí công tác hoặc chức vụ mà mình đang nắm giữ để thực hiện các hành động trái phép hoặc bất hợp pháp nhằm thu lợi cá nhân, làm lợi cho người khác, hoặc vi phạm các quy định, quy tắc đạo đức, pháp luật.

Chính nhờ chức vụ, quyền hạn chủ thể mới có khả năng giải quyết được việc người khác mong muốn và người có việc đưa hối lộ cho người có chức vụ, quyền hạn cũng vì chủ thể có khả năng này. Cho nên, chức vụ, quyền hạn được coi là điều kiện quyết định để người phạm tội thực hiện hành vi nhận hối lộ.6 Hành vi khách quan của tội nhận hối lộ được thực hiện dưới hai dạng hành vi: (1) Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhận của hối lộ để làm hay không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ (2) Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhận của hối lộ sau khi đã thực hiện việc làm hay không làm theo thỏa thuận với người đưa hối lộ. Thứ nhất, hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhận của hối lộ để làm hay không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Ở trường hợp này, có thể hiểu rằng người có chức vụ, quyền hạn nhận “của hối lộ” từ người đưa hối lộ trước khi làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ mà họ có quyền quyết định.

Điều quan trọng trong trường hợp này là sự giao dịch xảy ra trước khi hành vi được thực hiện, nghĩa là người nhận hối lộ đã đồng ý và nhận trước các lợi ích để thực hiện hành động hay không hành động theo yêu cầu của người đưa hối lộ, mà hành động đó có thể trái pháp luật hoặc không phục vụ lợi ích công cộng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ