Khóa luận tốt nghiệp luật học tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong bộ luật hình sự năm 2015

Khóa luận phân tích tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo Bộ luật Hình sự 2015 và các yếu tố pháp lý liên quan.

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Hình sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

88
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và đặc điểm của tội giết người trong trạng thái kích động mạnh

Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là một loại tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015. Đây là trường hợp đặc biệt khi người phạm tội có tâm thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra. Dấu hiệu pháp lý của tội này bao gồm: hành vi giết người có chủ đích, nguyên nhân gây kích động là hành vi trái pháp luật của nạn nhân, và trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội. Tội này được coi là một trong những trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phản ánh nguyên tắc nhân đạo của pháp luật Việt Nam.

1.1. Định nghĩa và khái quát về tội giết người kích động mạnh

Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là hành vi cố ý làm chết người khác khi người thực hiện hành vi ở trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra. Điều này khác biệt so với giết người thông thường, vì nguyên nhân gây kích động phải là hành vi sai trái của nạn nhân. Mức hình phạt thường nhẹ hơn tội giết người cơ bản.

1.2. Các đặc điểm chính của hành vi phạm tội

Đặc điểm quan trọng bao gồm: (1) Hành vi là cố ý giết người, (2) Có nguyên nhân kích động từ hành vi sai trái của nạn nhân, (3) Người phạm tội phải ở trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, (4) Thời gian từ khi bị kích động đến khi phạm tội không được quá lâu. Bộ luật Hình sự yêu cầu các yếu tố này phải được chứng minh rõ ràng.

II. Quy định pháp luật trong Bộ luật Hình sự 2015

Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định rõ ràng về tội giết người trong trạng thái kích động mạnh thông qua các điều khoản về định tội và hình phạt. Theo đó, tội này được xem là một trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự so với tội giết người cơ bản. Hình phạt dành cho tội này thường từ 3 năm đến 7 năm tù, tùy thuộc vào mức độ phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng khác. Dấu hiệu pháp lý định tội bao gồm yếu tố chủ quan (cố ý, kích động mạnh) và yếu tố khách quan (hành vi giết người, nguyên nhân từ nạn nhân).

2.1. Dấu hiệu pháp lý định tội và khung hình phạt

Dấu hiệu pháp lý của tội này được xác định rõ: hành vi giết người cố ý, nguyên nhân kích động từ hành vi trái pháp luật của nạn nhân, và trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Khung hình phạt áp dụng là 3-7 năm tù, nhẹ hơn giết người thông thường. Các tình tiết pháp luật khác có thể ảnh hưởng đến mức phạt cuối cùng mà toà án quyết định.

2.2. Phân biệt với các tội phạm liên quan

Cần phân biệt tội giết người kích động mạnh với: (1) Giết người thông thường - không có yếu tố kích động, (2) Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng - có dự định phòng vệ, (3) Gây thương tích dẫn đến chết - không có cố ý giết người. Mỗi tội danh có dấu hiệu riêng và hình phạt khác nhau theo Bộ luật Hình sự 2015.

III. Thực tiễn áp dụng và tình hình xét xử

Thực tiễn xét xử tội giết người trong trạng thái kích động mạnh cho thấy các tòa án gặp nhiều khó khăn trong việc xác định các yếu tố của tội này. Các bản án từ Tòa án nhân dân ở các địa phương cho thấy đa số vụ việc được xét xử có nguyên nhân từ mâu thuẫn gia đình hoặc xung đột cá nhân. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để xác định trạng thái kích động mạnh một cách khoa học, vì đây là yếu tố chủ quan khó chứng minh. Viện kiểm sát nhân dân đóng vai trò quan trọng trong việc buộc tội và phân tích dấu hiệu của hành vi phạm tội.

3.1. Tình hình xét xử hiện nay

Số vụ xét xử giết người kích động mạnh không quá cao so với các tội phạm khác. Các bản án từ TAND tối caoTAND địa phương cho thấy xu hướng áp dụng giảm nhẹ hình phạt khi các yếu tố của tội này được chứng minh. Tuy nhiên, nhiều vụ án vẫn gây tranh cãi về việc xác định mức độ kích động và tính hợp pháp của hành vi nạn nhân.

3.2. Thách thức trong áp dụng pháp luật

Các tòa án gặp khó khăn khi: (1) Xác định trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, (2) Chứng minh hành vi trái pháp luật của nạn nhân, (3) Xác định thời gian kích động có phù hợp pháp luật. Cần cải thiện kỹ năng điều tra và sử dụng chứng cứ khoa học để làm rõ các yếu tố này.

IV. Giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật

Để áp dụng đúng quy định pháp luật về tội giết người trong trạng thái kích động mạnh, cần thực hiện nhiều giải pháp toàn diện. Thứ nhất, tăng cường đào tạo cho cán bộ điều tra, công tố và xét xử về các dấu hiệu của tội này. Thứ hai, cải thiện chất lượng điều tra thông qua sử dụng chứng cứ tâm lý, pháp tế để xác định trạng thái tinh thần. Thứ ba, chuẩn hóa các tiêu chí đánh giá các yếu tố định tội như mức độ kích động mạnh, tính trái pháp luật của hành vi nạn nhân. Cuối cùng, phát hành hướng dẫn xét xử từ TANDTC để đảm bảo thống nhất trong áp dụng pháp luật trên toàn quốc.

4.1. Cải thiện chất lượng điều tra và thu thập chứng cứ

Cần nâng cao năng lực điều tra viên trong việc: (1) Thu thập chứng cứ tâm lý chứng minh trạng thái kích động, (2) Phân tích động lực hành vi của người phạm tội, (3) Đánh giá hành vi trái pháp luật của nạn nhân. Viện Kiểm sát nhân dân nên tăng cường giám sát điều tra để đảm bảo chất lượng và hợp pháp của quá trình điều tra.

4.2. Hướng dẫn xét xử thống nhất từ Tòa án tối cao

TANDTC cần: (1) Phát hành hướng dẫn cụ thể về cách xác định trạng thái kích động mạnh, (2) Công bố bản án điển hình để tòa án cấp dưới tham khảo, (3) Tổ chức hội thảo, tập huấn định kỳ cho cán bộ xét xử. Điều này giúp thống nhất áp dụng pháp luậtbảo vệ quyền con người.

11/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH 1. Khái niệm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 1. Định nghĩa tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là một trường hợp đặc biệt của tội giết người, hành vi này thường được xem xét ở mức khung hình phạt thấp hơn so với tội giết người thông thường. Để có thể hiểu lý do tại sao thì trước hết ta cần làm rõ các khái niệm: Theo Từ điển tiếng Việt của GS Hoàng Phê (chủ biên), “giết” là làm cho bị chết một cách đường đột, bất thường1.

Trong từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Đại học Luật Hà Nội, “giết người” là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác trái pháp luật. Thông thường bất kể cá nhân hay tổ chức nào thực hiện hành vi này đều sẽ phải chịu chế tài nhất định do hành vi của mình gây ra và ở Việt Nam nếu hành vi xâm hại đến tính mạng người khác do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thì sẽ phải chịu TNHS do mình gây ra2. Theo quan điểm xã hội học của Émile Durkheim, “giết người” được xem là hành vi vi phạm nghiêm trọng các chuẩn mực xã hội và đạo đức. Đây không chỉ là sự tước đoạt mạng sống mà còn gây tổn thương tâm lý cho gia đình nạn nhân và ảnh hưởng đến an ninh xã hội3.

Theo quan điểm của Nguyễn Thị Nhật Minh tác giả của luận văn thạc sĩ học về tội này thì giết người là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác do người có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu TNHS thực hiện. Về việc sử dụng thuật ngữ giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác là chưa phù hợp, chính xác theo ý nghĩa từ ngữ trong tiếng Việt, quan điểm cho rằng “tước đoạt” là tước và chiếm 1 Hoàng Phê (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr401. 2 Nguyễn Ngọc Hòa & Lê Thị Sơn (2006), Từ điển pháp luật hình sự, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr14.

The Rules of Sociological Method. New York: The Free Press. 8 lấy, do vậy “tước đoạt” đã bao gồm sự cố ý nên không cần thiết phải quy định “giết người” là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật.4 Theo quan điểm của tác giả, tôi đồng ý với quan điểm trên. Có thể nhận thấy, khái niệm tội giết người là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác do người có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu TNHS thực hiện.

Theo từ điển tiếng Việt, “kích động” là tác động đến tinh thần gây ra một xúc động mãnh liệt, “mạnh” là có cường độ hoạt động lớn, gây tác động và hiệu quả đáng kể5. Do vậy, kích động mạnh có thể hiểu là những tác động đến tinh thần với cường độ cực lớn gây ra cảm xúc mãnh liệt. Theo quan điểm của các nhà tâm lý học, “kích động mạnh” lại được xem là một phản ứng tự nhiên của cơ thể trước các tình huống căng thẳng cực độ. Vì vậy, “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” là trạng thái tâm lý, tinh thần bị chịu tác động với cường độ lớn gây ra cảm xúc mãnh liệt, quá giới hạn chịu đựng dẫn đến việc căng thẳng quá mức, vượt tầm kiểm soát.

Hiện nay, có một số quan điểm khác nhau liên quan đến khái niệm “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”. Quan điểm thứ nhất cho rằng tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng (tâm lý) không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi của mình6. Quan điểm thứ hai, có điểm giống với quan điểm thứ nhất cho rằng trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng ý thức bị hạn chế ở mức độ cao do không chế ngự được tình cảm dẫn đến sự hạn chế đáng kể khả năng kiểm soát và điều khiển hành vi7. Hai quan điểm này đều thừa nhận trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là trạng thái mà tâm lý bị ức chế ở mức độ cao dẫn đến nhận thức bị hạn chế làm giảm đáng kể khả năng điều khiển hành vi, nhưng vẫn còn khả năng điều khiển hành vi của mình.

Quan điểm thứ ba cho rằng trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là trạng thái của một người không còn nhận thức đầy đủ về hành vi của mình như lúc bình thường, nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức. Lúc đó, họ không hoàn toàn còn khả năng tự chủ và không thấy hết 4 Nguyễn Thị Nhật Minh (2022), Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong BLHS 2015, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr9. 5 Hoàng Phê (2003), Từ điển tiếng việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng. 6 Nguyễn Ngọc Điệp (1997), 550 thuật ngữ chủ yếu trong pháp luật hình sự Việt Nam, Nxb TP.

Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh. 7 Nguyễn Ngọc Hòa & Lê Thị Sơn (2006), Từ điển pháp luật hình sự, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 9 được tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình; trạng thái tinh thần của họ gần như người điên (người mất trí)8.

Theo quan điểm này, người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh dù chưa mất hoàn toàn khả năng nhận thức, nhưng đã không hoàn toàn làm chủ, không hoàn toàn kiềm chế và điều khiển hành vi của mình và có thể coi họ như là một trong những các trường hợp bị hạn chế năng lực TNHS. Tuy nhiên trong quá khứ để hướng dẫn áp dụng BLHS thì TANDTC đã từng ban hành Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ của Hội đồng thẩm phán TANDTC ngày 29 tháng 11 năm 1986 thì “Tình trạng tinh thần bị kích động là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình. Nói chung, sự kích động mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên sự phản ứng dẫn tới hành vi giết người. Nhưng cá biệt có trường hợp do hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức tương đối nặng nề, lặp đi lặp lại, sự kích động đó đã âm ỷ, kéo dài, đến thời điểm nào đó hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bị kích động không tự kiềm chế được; nếu tách riêng sự kích động mới này thì không coi là kích động mạnh, nhưng nếu xét cả quá trình phát triển của sự việc, thì lại được coi là mạnh hoặc rất mạnh.” Như vậy về bản chất cá nhân thực hiện hành vi đó đã không hoàn toàn còn khả năng làm chủ được bản thân mình hay còn được gọi là rơi vào tình trạng không hoàn toàn còn khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Vào thời điểm này họ không hoàn toàn có khả năng tự chủ, làm chủ được hành vi của mình một cách bình thường nữa. Trong quá khứ trước khi “tình trạng bị kích động mạnh” xảy ra họ biết được tính chất và hành vi của họ có thể dẫn đến điều gì nên họ sẽ không thực hiện hành vi như thế. Khi rơi vào “tình trạng bị kích động mạnh” bản thân họ giống như một kẻ điên hoàn toàn, và sẽ thực hiện những hành vi chưa từng thực hiện bao giờ. Tình trạng này không phải là trạng thái mãi mãi, mà chỉ xảy ra một cách bất chợt rồi nhanh chóng biến mất.

Sau khi trạng thái này biến mất họ sẽ trở lại hoàn toàn bình thường. 8 Đinh Văn Quế (2003), Bình luận BLHS (phần riêng), Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người trong BLHS năm 1999, Nxb TP Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, tr45. 10 Qua những phân tích trên, có thể rút ra được khái niệm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác trong trạng thái người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi của mình do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội. Đặc điểm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Việc xem xét hành vi giết người có phải trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh hay không cần phải xem xét dựa trên rất nhiều yếu tố xuất phát từ những đặc điểm riêng biệt của tội này.

Để có thể đánh giá xem trạng thái kích động mạnh hay không thì cần phải xem có đủ các yếu tố của tội danh này hay là không. Thứ nhất, phạm tội khi thực hiện hành vi phải đang trong tình trạng tinh thần không ổn định và không hoàn toàn có khả năng điều khiển hành vi của mình. Như đã phân tích ở phần trên, người phạm tội trong trường hợp này là những cá nhân hoàn toàn bình thường, khỏe mạnh và tỉnh táo ở thời điểm trước đó. Trong quá khứ, bản thân họ sở hữu đầy đủ nhận thức và hoàn toàn hiểu rõ tính chất cũng như mức độ nguy hiểm của hành vi mình thực hiện, đặc biệt là việc tước đoạt tính mạng của một người nào đó.

Họ không hề và chưa bao giờ có ý định hoặc kế hoạch thực hiện hành vi giết người từ trước, và cũng không có các dấu hiệu về tâm lý bất ổn hoặc các hành vi nguy hiểm. Tuy vậy, khi họ rơi vào hoàn cảnh cụ thể và bị kích động mạnh, trạng thái tinh thần của họ hoàn toàn thay đổi điều đó dẫn đến việc không hoàn toàn còn khả năng điều khiển hành vi của mình. Ở trong trạng thái này, người phạm tội không hoàn toàn còn khả năng tự điều khiển hành vi và cảm xúc của chính mình. Điều đó có nghĩa là họ rơi vào trạng thái cảm xúc quá mạnh mẽ tới mức không hoàn toàn có thể làm chủ được bản thân, dù trong quá khứ họ là người hoàn toàn bình thường và không hề có biểu hiện tâm lý lệch lạc hay là những vấn đề tâm thần nghiêm trọng khác.

Sự không hoàn toàn còn khả năng điều khiển hành vi xuất phát từ một hoặc nhiều yếu tố kích động mạnh mẽ và chính điều đó làm họ như biến thành một người thiếu đi sự tỉnh táo và khả năng điều khiển hành vi, giống như một kẻ điên. Tuy vậy cũng cần lưu ý rằng là trạng thái này không là vĩnh viễn có nghĩa 11 người phạm tội không phải đã mất hoàn toàn khả năng nhận thức.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ