Khóa luận tốt nghiệp luật học tội gây rối trật tự công cộng trong bộ luật hình sự và thực tiễn thi hành tại toà án nhân dân tỉnh đắk lắk

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tội gây rối trật tự công cộng trong Bộ luật Hình sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án Nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Trường đại học

Đại học Luật Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Hình sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

70
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và quy định pháp luật về tội gây rối trật tự công cộng

Tội gây rối trật tự công cộng là một trong những loại tội phạm quan trọng được quy định trong Bộ Luật Hình Sự năm 2015. Theo quy định, trật tự công cộng là hệ thống các quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi pháp luật, nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của đời sống xã hội. Hành vi gây rối trật tự công cộng không chỉ ảnh hưởng đến an toàn cá nhân mà còn gây mất trật tự trong cộng đồng. Các hành vi này bao gồm: chống trả công an, gây loạn trong nơi công cộng, đua xe trái phép, và nhiều hành vi khác vi phạm an toàn xã hội. Việc hiểu rõ quy định pháp luật về tội này là cơ sở quan trọng để thực thi công vụ và bảo vệ trật tự xã hội hiệu quả.

1.1. Định nghĩa và dấu hiệu pháp lý của tội gây rối trật tự công cộng

Theo Bộ Luật Hình Sự, tội gây rối trật tự công cộng được định nghĩa là hành vi cố ý gây xáo trộn, mất an toàn, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của xã hội. Các dấu hiệu pháp lý bao gồm: hành vi có tính công khai, gây ảnh hưởng tiêu cực đến công cộng, có tính chất nguy hiểm xã hội. Hành vi phạm tội có thể là chủ động hoặc thụ động, nhưng phải mang tính cố ý. Các dấu hiệu này là căn cứ quan trọng để cơ quan chức năng xác định và xử lý hành vi vi phạm.

1.2. Phân loại và hình phạt đối với tội gây rối trật tự công cộng

Pháp luật hình sự quy định nhiều mức hình phạt khác nhau tùy thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi. Các mức phạt có thể từ phạt tiền, phạt tù ngắn hạn cho đến phạt tù dài hạn trong trường hợp tội danh có tính chất nghiêm trọng. Khung hình phạt tăng nặng áp dụng khi có các yếu tố định tội khác nhau. Việc phân loại chính xác giúp bảo đảm công lý, tính nhân đạo trong xử lý.

II. Thực tiễn xét xử tội gây rối trật tự công cộng tại Đắk Lắk

Tỉnh Đắk Lắk như một địa phương có tình hình an ninh trật tự cần được quan tâm, xét xử các vụ tội gây rối trật tự công cộng một cách nghiêm minh. Dữ liệu từ Tòa Án Nhân Dân tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2020-2024 cho thấy số lượng vụ án liên quan đến gây rối TTCC không nhỏ. Các vụ án này phản ánh tình hình vi phạm pháp luật trên địa bàn, đặc biệt là những hành vi cố ý xâm phạm trật tự công cộng tại các không gian công cộng. Việc xét xử kịp thời, chính xác các vụ án này có ý nghĩa quan trọng trong việc phòng chống tội phạm, giáo dục pháp luật cho cộng đồng.

2.1. Số liệu thống kê vụ án gây rối trật tự công cộng từ 2020 2024

Theo thống kê của TAND hai cấp tỉnh Đắk Lắk, số lượng vụ gây rối TTCC được tiếp nhận, xét xử có sự biến động qua các năm. Dữ liệu cụ thể giúp nhận diện xu hướng, mô hình của hành vi vi phạm. Các vụ án thường liên quan đến đua xe trái phép, gây loạn ở nơi công cộng, chống trả lực lượng chức năng. Việc phân tích dữ liệu này cung cấp cơ sở khoa học cho công tác phòng chống tội phạm.

2.2. Đặc điểm nhân thân và mô hình hành vi phạm tội

Các vụ án sơ thẩm từ 2021-2024 cho thấy những đặc điểm về nhân thân người phạm tội: chủ yếu là thanh niên, nam giới, có trình độ học vấn thấp. Các hành vi phạm tội thường xảy ra vào ban đêm, tại các khu vực phía ngoài thành phố, liên quan đến rượu bia, chất kích thích. Mô hình phạm tội nhóm cũng khá phổ biến, với sự tham gia của nhiều người cùng lứa tuổi, bạn bè.

III. Những hạn chế và bất cập trong quy định pháp luật hiện hành

Trong quá trình xét xử tội gây rối trật tự công cộng, cơ quan chức năng đã ghi nhận một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật hình sự hiện hành. Những bất cập này làm cho việc áp dụng pháp luật gặp khó khăn, không đảm bảo tính nhất quán. Một trong những vấn đề quan trọng là ranh giới giữa tội gây rối trật tự công cộng với các tội phạm khác không được định rõ rằng, dẫn đến tình trạng ứng dụng khác nhau giữa các địa phương, thậm chí giữa các vụ án tương tự. Ngoài ra, việc định khung tăng nặng của tội danh này cũng cần được làm rõ hơn để đảm bảo tính công bằng và nhất quán trong xử lý.

3.1. Ranh giới phân biệt giữa các tội phạm liên quan

Việc phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với các tội như gây thương tích, đua xe trái phép, hay chống thi hành công vụ không luôn rõ ràng. Trong thực tiễn, cùng một hành vi có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Điều này làm cho ứng dụng pháp luật không nhất quán, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân vào công lý. Cần có những hướng dẫn cụ thể từ các cơ quan pháp lý để làm rõ ranh giới này.

3.2. Các vấn đề về định khung hình phạt và tăng nặng

Khung hình phạt cho tội gây rối trật tự công cộng theo quy định hiện tại có phạm vi khá rộng, từ phạt tiền đến phạt tù hạn định. Các yếu tố tăng nặng hình phạt như: hành vi tái phạm, gây ra hậu quả nặng nề, không được định rõ ràng. Điều này dẫn đến tình trạng tuy裁xử khác nhau trong các vụ án tương tự, gây ra lo ngại về tính công bằng pháp lý.

IV. Kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật về tội gây rối trật tự công cộng

Để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với tội gây rối trật tự công cộng, cần có các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện quy định. Trước hết, cần sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật để làm rõ ranh giới giữa các tội phạm liên quan, xây dựng những tiêu chí rõ ràng để phân định. Thứ hai, cần ban hành các hướng dẫn của Viện Kiểm SátTòa Án Tối cao về ứng dụng pháp luật, đảm bảo tính nhất quán trong xử lý. Thứ ba, nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố của lực lượng chức năng. Cuối cùng, cần tăng cường giáo dục pháp luật cho cộng đồng để phòng ngừa hành vi vi phạm.

4.1. Sửa đổi bổ sung quy định của Bộ Luật Hình Sự

Cần sửa đổi quy định Điều 318 Bộ Luật Hình Sự năm 2015 để làm rõ hơn các dấu hiệu pháp lý của tội gây rối trật tự công cộng. Đặc biệt, cần bổ sung những yếu tố tăng nặng hình phạt cụ thể như: tái phạm trong thời gian ngắn, gây ra hậu quả nặng nề, ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc phòng. Ngoài ra, cần xây dựng những khung hình phạt chi tiết hơn để đảm bảo tính công bằngtính nhân đạo trong xử lý từng vụ án cụ thể.

4.2. Nâng cao chất lượng hoạt động điều tra truy tố và xét xử

Cần đào tạo nâng cao kỹ năng, kiến thức pháp luật cho cán bộ điều tra, truy tốxét xử. Các cơ quan này phải hiểu rõ những khó khăn, bất cập trong pháp luật hiện hành, có khả năng ứng dụng sáng tạo, khoa học. Ngoài ra, cần xây dựng quy trình rõ ràng, minh bạch trong việc giải quyết vụ án, đảm bảo đáp ứng các yêu cầu của nhà nước pháp quyền. Việc trao đổi kinh nghiệm, học tập từ các vụ án điển hình giữa các địa phương cũng rất quan trọng.

11/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG 1. Các dấu hiệu pháp lý của tội gây rối trật tự công cộng BLHS năm 2015 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông quan vào ngày 27/11/2015, tuy nhiên do còn nhiều hạn chế và bất cập, đặc biệt các hạn chế liên quan đến lỗi kỹ thuật, vì vậy ngày 20/06/2017, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS số 10/2015/QH13 và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018. Sự ra đời của BLHS năm 2015 đây là cột mốc quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của luật hình sự Việt Nam. BLHS 2015 ra đời là phù hợp với điều kiện khách quan, đánh dấu một bước tiến mới trong lịch sử lập pháp, với sự thay đổi căn bản, toàn diện nhằm phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội trong giai đoạn mới hiện nay.

BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) có nhiều thay đổi so với BLHS 1999, trong đó tội Gây rối trật tự công cộng cũng có những sự thay đổi cơ bản và được quy định tại Điều 318, Mục 4 - Các tội phạm khác xâm phạm trật tự công cộng trong Chương XXI: Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng BLHS 2015. Cụ thể quy định về tội này như sau1: “Điều 318. Tội gây rối trật tự công cộng: 1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: 1 Trích toàn văn Điều 318 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). 6 a) Có tổ chức; b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách; c) Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng; d) Xúi giục người khác gây rối; đ) Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng; e) Tái phạm nguy hiểm. Để xác định một hành vi có phải là Tội gây rối trật tự công cộng hay không, cần phải xem xét đầy đủ các dấu hiệu này. Các dấu hiệu định tội của tội gây rối trật tự công cộng Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của BLHS phải bị xử lý hình sự.

Tội gây rối trật tự công cộng nằm trong nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Dù các tội phạm có những biểu hiện hết sức đa dạng và phong phú với những nét riêng biệt thì chúng đều có chung một cấu trúc bao gồm các yếu tố hợp thành như sau: Dấu hiệu khách thể của tội phạm: là các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ, bị tội phạm gây rối trật tự công cộng xâm hại gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại trong mức nhất định. Tội gây rối TTCC là tội phạm xâm phạm đến an toàn công cộng, những quy tắc, sinh hoạt, đi lại, làm việc, vui chơi. ở nơi công cộng, vi phạm quy tắc, nếp sống 7 văn minh, văn hóa, gây ảnh hưởng đời sống, sinh hoạt của mọi người ở nơi công cộng.

Đây còn gọi là khách thể trực tiếp của tội phạm (tức là bị tội phạm xâm hại trực tiếp). Ngoài ra, tội gây rối trật tự công cộng còn gây khó khăn, trở ngại cho hoạt động của những người trong cơ quan Nhà nước và xã hội làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự công cộng2. Mặt khách quan của tội phạm: là những biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của tội phạm, bao gồm hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, không gian, thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện phạm tội… Cụ thể: Hành vi gây rối trật tự công cộng là những hành vi làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, an toàn và trật tự xã hội, hành vi gây rối TTCC được mô tả trong điều luật là hành vi của một người có lời nói, cử chỉ tiếp xúc, hành động với người khác ở nơi công cộng với thái độ không tôn trọng pháp luật, trật tự xã hội chung, gây mất trật tự hoặc là những hành vi quấy rối, gây gổ, đánh nhau với người khác nhưng chưa gây thương tích đến mức cấu thành tội phạm độc lập, gây lộn xộn, mất trật tự, náo loạn ở các nơi công cộng như: rạp hát, vườn hoa, vỉa hè hoặc có hành vi ném đá, chất bẩn, chất thải vào chỗ đông người. Có những hành vi coi thường nội quy, quy định, quy tắc đã được đặt ra mà mọi người đều phải chấp hành như: Hút thuốc lá nơi công cộng; gác chân lên ghế trong rạp chiếu phim, v.

Ví dụ: Chiều ngày 25/06/2021, vợ chồng anh Nguyễn T. đưa người thân vào cấp cứu tại bệnh viện E, tỉnh Đắk Lắk. Do cho rằng bác sĩ chậm trễ trong việc cứu chữa, anh D. đã lớn tiếng chửi bới, lăng mạ bác sĩ, chị vợ của anh ở cạnh cùng hùa theo chửi y tá.

Vợ chồng anh D. còn đập phá một số đồ đạc trong phòng cấp cứu, gây náo loạn bệnh viện, ảnh hưởng đến việc khám, chữa bệnh của các bệnh nhân khác. Hậu quả của tội phạm, theo quy định tại khoản 1 Điều 318 BLHS 2015, hậu quả của hành vi gây rối TTCC là “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”. Đa số các cơ quan tiến hành tố tụng hiện tại đang vận dụng Nghị quyết số 2 Bùi An Giôn (2015), “Về tội gây rối trật tự công cộng quy định tại Điều 318 BLHS năm 2015”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 15, tr.

8 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/04/2003 “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS” về tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng để xử lý đối với hậu quả của loại tội phạm này: Hành vi GRTTCC có thể gây thiệt hại đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, tác động tiêu cực đến hoạt động bình thường của nhân dân tại các khu vực công cộng3. Mặt khác, cũng theo Điều 318 BLHS, hành vi gây rối TTCC chưa gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự nhưng “đã bị xử hành chính về hành vi này” hoặc “đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích” mà còn vi phạm thì vẫn bị truy cứu TNHS. Bên cạnh những hậu quả liên quan đến an ninh, an toàn và trật tự tại nơi công cộng, thì còn có các hậu quả có thể xảy ra như các thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản. Thực tiễn cho thấy có thể còn có hậu quả phi vật chất như hành vi trên có ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, ngoại giao, quan hệ quốc tế, đến trật tự, an toàn xã hội, hình ảnh quốc gia trong mắt bạn bè thế giới.

Trong các trường hợp này phải tùy theo từng trường hợp cụ thể, như: hoàn cảnh phạm tội, động cơ, công cụ, phương tiện, địa điểm gây rối để đánh giá mức độ hậu quả do tội phạm gây rối TTCC gây ra có phải là nghiêm trọng hay không nghiêm trọng. Địa điểm thực hiện hành vi phạm tội: Nơi thường xảy ra tội phạm gây rối TTCC là những chỗ tập trung đông người như rạp hát, rạp chiếu bóng, sân vận động, nhà thi đấu, nhà văn hóa, câu lạc bộ, nơi tổ chức các hoạt động thể dục, xí nghiệp, các tổ chức xã hội, hoặc ở nơi công cộng khác có những quy tắc, nội quy, kỷ luật thành văn hoặc bất thành văn mà buộc mọi người có mặt phải có văn hóa ứng xử và chấp hành, tôn trọng người khác. Trong một số trường hợp, mặc dù hành vi vi phạm diễn ra tại khu vực nhà riêng nhưng ảnh hướng đến nhiều người thì vẫn bị truy cứu TNHS về tội gây rối trật tự công cộng theo quy định của pháp luật. Công cụ, phương tiện: Phương tiện phạm tội là những vật chất mà chủ thể thực hiện hành vi phạm tội gây rối trật tự công cộng sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Công cụ phạm tội dụng cụ để chủ thể thực hiện hành vi gây rối sử dụng để phạm tội như: Dao, búa, phóng lợn. Bên cạnh những yếu tố trên, mặt khách quan của tội gây rối trật tự công cộng còn: thời gian, phương pháp, hoàn cảnh phạm tội.1 Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/04/2003 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao. 9 Những dấu hiệu này không phải dấu hiệu bắt buộc của tội phạm gây rối TTCC, tuy nhiên cũng có vai trò quan trọng trong quá trình xét xử, định khung hình phạt. Mặt chủ quan của tội phạm: Hành vi gây rối trật tự công cộng được quy định tại Điều 318 BLHS 2015, tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

Tức là khi chủ thể thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, chủ thể nhận thức rõ hành vi gây rối trật tự công cộng của mình là có tính nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại cho xã hội, mặc dù thấy trước hậu quả của hành vi đó nhưng mong muốn hậu quả đó xảy ra. Về mặt lý trí của chủ thể thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, chủ thể nhận thức rõ được tính chất nguy hiểm của hành vi, thấy trước hậu quả của hành vi gây rối trật tự công cộng đối với xã hội. Hành vi này được các chủ thể thực hiện một cách công khai ở nơi đông người, thường xuyên có người qua lại và thường không có ý định che giấu hành vi vi phạm của mình. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, mặc dù hành vi GRTTCC diễn ra tại nhà riêng nhưng hành vi gây rối đó đã xâm phạm đến trật tự chung của khu vực dân cư.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ