Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG 1. Vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên Huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang nằm ở vị trí địa lý 22 °02’13’’- 22°34’41” vi ̃độ Bắc 22°12’13’’ - 22°34’41’’ kinh độ Đông, cách trung tâm tỉnh lỵ Hà Giang 85 km về phía Tây Nam, cách cửa khẩu Thanh Thủy của tỉnh Hà Giang 110 km, cách cửa khẩu Hà Khẩu của tỉnh Lào Cai 120 km, phía Bắc giáp huyện Xín Mần và huyện Hoàng Su Phì, phía Đông giáp huyện Bắc Quang và tỉnh Yên Bái, phía Tây giáp huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Huyện có diện tích đất tự nhên là 79. Là huyện vùng núi thấp nhưng cấu trúc địa hình của huyện Quang Bình tương đối phức tạp với ba loại địa hình chính: Vùng núi cao có độ cao trung bình từ 900m- 1.700m so với mặt nước biển, gồm các xã: Xuân Minh, Tân Bắc, Tân Trịnh, Tiên Nguyên, Yên Thành, Bản Rịa, vùng này địa hình chia cắt mạnh, có độ dốc lớn (trên 25 °), dạng địa hình này thuận lợi cho phát triển chăn nuôi đại gia súc, trồng cây lâm nghiệp, cây dược liệu và phát triển chè shan tuyết… Khu vực đồi núi thấp có độ cao trung bình từ 150m- 900 gồm hầu hết các xã, trấn vùng thấp như: Yên Bình, Bằng Lang, Xuân Giang, Yên Hà, Hương Sơn, Tiên Yên, Vỹ Thượng và phần đồi núi thấp của các xã vùng cao… địa hình vùng này có dạng bát úp hoặc lượn sóng tương đối thuận lợi cho phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả như cam, quýt… Ngoài ra, trên địa bàn huyện có diện tích đất bằng phẳng nằm trong các thung lung gồm các dải đất bằng, thoải và những cánh đồng ven sông, suối của hầu hết các xã vùng thấp của huyện, thuận lợi cho hoạt động sản xuất lương thực, thực phẩm và nuôi trồng thủy sản.
Thời tiết, khí hậu ở huyện Quang Bình mang đặc trưng của vùng nhiệt đới gió mùa, tính chất nóng, ẩm với nhiệt độ trung bình từ 22 °- 27°C, lượng mưa hàng huyện Quang Bình chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa và mùa khô. Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 21,6°- 23,9°C. Nhiệt độ cao nhất khoảng 40°C vào tháng 6, 7; mùa khô Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 9 http://www.vn/ c nhiệt độ thấp nhất khoảng 4 đến 5°C. Do địa hình chia cắt mạnh nên tạo ra các tiểu vùng khí hậu khác nhau, ở các xã vùng cao như: Tân Bắc, Tân Trịnh, Yên Thành, Xuân Minh, Tiên Nguyên, Bản Rịa, Tân Nam nhiệt độ thấp hơn các xã vùng thấp từ 2- 3°C, đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển đa dạng các loại cây trồng trên địa bàn huyện.
Bên cạnh đó, do lượng mưa phân bố không đều giữa các mùa trong năm, 90% lượng mưa tập trung vào mùa hè đã dẫn đến tình trạng khô hạn vào mùa đông, mưa lũ thường xảy ra vào mùa hè gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống của nhân dân.1: Khí hậu ở huyện Quang Bình năm 2013 STT Yếu tố Trạm Hà Giang 1 Nhiệt độ bình quân năm (0°C) 21,6°C ~23,9 °C 2 Nhiệt độ tối cao tương đối 40°C 3 Nhiệt độ thấp tương đối 2,2°C 4 Lượng mưa bình quân năm (mm) 2400 mm 5 Số ngày mưa/năm 180-200 ngày 6 Lượng mưa cực đại trong ngày 4244 mm 7 Độ ẩm trung bình (%) 85% 8 Độ ẩm cực tiểu (%) 81% 9 Lượng bốc hơi (mm) 2345,2 mm (Nguồn: Trạm khí tượng tỉnh Hà Giang) Hệ thống sông suối ở Quang Bình phân bố tương đối đồng đều ở các xã, trong đó có hai sông lớn là sông Chừng và sông Bạc. Sông Chừng bắt nguồn từ các xã Nà Chí, Khuôn Lùng của huyện Xín Mần chảy qua các xã Tân Nam, Tân Bắc, Tân Trịnh, Yên Hà và xã Hương Sơn. Sông Bạc bắt nguồn từ xã Thông Nguyên của huyện Hoàng Su Phì, chảy qua các xã Xuân Minh, Tân Trịnh, ngoài ra còn có nhiều suối nhỏ phân bố ở hầu khắp các xã, thị trấn. Hệ thống sông suối đa dạng là điều kiện thuận lợi cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và phát triển thuỷ điện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.
Tuy nhiên, do địa hình phức tạp hầu hết các sông, suối trên địa bàn huyện có lòng hẹp, độ dốc và độ uốn khúc lớn, dòng chảy mạnh, nhiều thác ghềnh, không thuận lợi cho giao thông đường Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 10 http://www.vn/ c thủy và thường xuyên xảy ra hiện tượng lũ ống, lũ quét và sạt lở đất vào mùa mưa gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống của nhân dân [4, tr12]. Tổng diện tích đất tự nhiên ở huyện Quang Bình là 79.188,04 ha, trong đó đất sản xuất nông, lâm nghiệp là 71. Đất phi nông nghiệp là 2.Đất chưa sử dụng 4.Trong tổng diện tích đất sản xuất nông lâm nghiệp, đất sản xuất lâm nghiệp là 59.Đất sản xuất nông nghiệp là 11.Đất nuôi trồng thủy sản là 339,52 ha, chiếm 0,42%. Đất đai ở Quang Bình gồm nhiều loại đất phân bố ở các dạng địa hình khác nhau, thích hợp cho các loại cây như: chè, cam, các loài cây lâm nghiệp phục vụ cho công nghệ chế biến giấy và chăn nuôi đại gia súc như: trâu, bò… Đây được coi là một trong những tiềm năng để người dân Quang Bình vươn lên thoát nghèo.
Lúa là cây trồng truyền thống và là cây trồng chủ lực của huyện, chiếm 95% trong tổng diện tích gieo trồng hàng năm. Hàng năm sản xuất đạt khoảng 35 nghìn tấn thóc, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, tiêu dùng của nhân dân trong huyện, các vùng lân cận và tham gia xuất khẩu Bảng 1.2: Cơ cấu diện tích gieo trồng cây hàng năm Huyện Quang Bình năm 2010- 2012 Hạng Diện tích gieo trồng (ha) Cơ cấu (%) mục 2010 2011 2012 2010 2011 2012 Tổng 33,185 27,326 23,967 100 100 100 DTGT Cây lương 30,094 23,093 18,317 90,69 84,54 76,42 thực Hoa màu 0,095 0,733 1,124 0,29 2,65 4,69 Cây CN ngắn 2,996 3,500 4,526 9,02 12,81 18,89 ngày (Nguồn: Thống kê huyện Quang Bình, 2012) Tài nguyên rừng của Quang Bình khá phong phú và đa dạng với diện tích đất rừng là 40.796 ha, trong đó rừng sản xuất có 32.348 ha, rừng phòng hộ có 8. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 11 http://www.vn/ c Hiện nay trên địa bàn huyện vẫn còn một số diện tích rừng nguyên sinh với thảm thực vật tương đối phong phú, đa dạng với nhiều loại động, thực vật quý hiếm như: lợn rừng, hoẵng, khỉ, sơn dương, các loại bò sát, các loại gỗ quý như: nghiến, đinh, sến… Rừng nguyên sinh vừa có tác dụng bảo vệ sự đa dạng của sinh học, bảo vệ môi trường sinh thái, chống xói mòn, sạt lở, đồng thời là tiềm năng để khai thác phát triển du lịch sinh thái. Tuy nhiên, rừng ở các xã vùng thấp hiện nay chủ yếu là rừng tái sinh, diện tích đất chưa có rừng còn lớn, việc khai thác lâm sản trái phép chưa được giải quyết triệt để đã tác động tiêu cực đến thảm thực vật, ảnh hưởng không nhỏ đến cảnh quan, môi trường sinh thái và biến đổi tiêu cực của khí hậu.
Theo kết quả điều tra, khảo sát của các đoàn điạ chất thì tài nguyên khoáng sản của huyện Quang Bình hiện nay phân bốrải rác ởmột số xã như: MỏChì, Kem̃ ở xã Yên Thành, đang đươc ̣ đầu tư khai thác với trữlượng khoảng 1,3 triệu tấn, ngoài ra còn một sốmỏnhư mỏMê Ka ởxã Bản Ria,̣ mỏQuặng sét ởxã Tân Bắc, mỏVàng sa khoáng ởxã Bằng Lang tuy nhiên do điều kiện khó khăn nên chưa tiến hành xúc tiến đầu tư thăm dò khai thác. Ngoài ra trên điạ bàn còn có nguồn vật liệu cát, sỏi, đá xanh đang đươc ̣ khai thác đáp ứng một phần nhu cầu vềvật liệu xây dưṇg trên điạ bàn huyện. Đây chính là tiềm năng phát triển công nghiệp khai khoáng và công nghiệp chếbiến trên điạ bàn huyện. Khái quát lịch sử hành chính huyện Quang Bình Lịch sử hành chính của huyện Quang Bình cũng gắn liền với lịch sử của tỉnh Hà Giang.
Vào thời Hùng Vương, mảnh đất Hà Giang đã là một trong 15 bộ của quốc gia Lạc Việt.Thời Thục Phán An Dương Vương lập nước Âu Lạc, Hà Giang thuộc bộ lạc Tây Vu. Trong thời kỳ đô hộ của phong kiến phương Bắc kéo dài nghìn năm, khu vực Hà Giang vẫn nằm trong địa phận huyện Tây Vu thuộc quận Giao Chỉ. Từ năm 1075 (đời nhà Lý), miền đất Hà Giang lúc đó thuộc về châu Bình Nguyên. Vào đầu đời Trần, khu vực Hà Giang hiện nay, lúc đó gọi là châu Tuyên Quang.
Năm 1397 đổi thành trấn Tuyên Quang. Địa danh Hà Giang lần đầu tiên được nhắc đến trong bài minh khắc trên chuông chùa Sùng Khánh (xã Đạo Đức, Vị Xuyên), được đúc nhân dịp trùng tu chùa vào đầu thời Vua Lê Dụ Tông, năm 1707. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 12 http://www.vn/ c Năm Minh Mệnh thứ 16 (năm 1835), nhà Nguyễn bỏ châu Bảo Lạc, chia làm hai huyện: Vĩnh Điện (khoảng Bắc Mê, Yên Minh và một phần Quản Bạ ngày nay và huyện Để Định (khoảng huyện Bảo Lạc, Cao Bằng và một phần Đồng Văn, Mèo Vạc ngày nay). Lấy sông Lô phân giới để chia châu Vị Xuyên thành hai đơn vị hành chính mới: Khu vực phía hữu ngạn sông Lô được gọi là huyện Vĩnh Tuy, còn phía tả ngạn sông Lô là huyện Vị Xuyên.
Năm Thiệu Trị thứ hai (năm 1842), triều đình nhà Nguyễn chia Tuyên Quang làm ba hạt: Hà Giang, Bắc Quang, Tuyên Quang. Hạt Hà Giang có một phủ là Tương Yên với bốn huyện : Vị Xuyên, Vĩnh Tuy, Vĩnh Điện, Để Định. Năm Thiệu Trị thứ tư (1844), nhà Vua lại phê chuẩn cho các huyện châu thuộc tỉnh hạt biên giới phía Bắc, Tây Bắc, trong đó có Hà Giang vẫn theo đặt chức thổ quan. Đến đời Tự Đức thì chế độ thổ quan bị bãi bỏ trên phạm vi cả nước.
Năm 1858, sau khi đánh chiếm hầu hết các tỉnh Nam Kỳ, Bắc Kỳ, năm 1887, thực dân Pháp đánh chiếm Hà Giang và thay đổi chế độ cai trị bằng cách thiết lập các đạo quan binh. Ngày 20/08/1891, tỉnh Hà Giang được thành lập, bao gồm phủ Tương Yên và huyện Vĩnh Tuy (tỉnh Tuyên Quang). Năm 1893, trong dịp cải tổ trong các quân khu, Hà Giang trở thành trung tâm của một quân khu và cùng với Tuyên Quang hợp thành Đạo quan binh thứ ba. Ngày 17/09/1895, Toàn quyền Đông Dương ra Quyết định số 1432 chia khu quân sự thứ ba thành ba tỉnh: Tuyên Quang, Bắc Quang và Hà Giang.
Trong đó, Hà Giang bao gồm huyện Vị Xuyên (trừ tổng Phú Loan và Bằng Hành), cộng thêm các tổng Phương Độ và Tương Yên [46].