Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Khái quát về Hội đồng nhân dân cấp huyện 1. Chính quyền cấp huyện trong bộ máy chính quyền nhà nước ở Việt Nam Cấp huyện ở Việt Nam hiện nay được quy định trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 bao gồm: huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương. Theo quy định của pháp luật, cấp huyện chia thành 3 loại (I, II, III).
Tuy nhiên, ngoài chia thành 3 loại trên, còn có chia theo: - Huyện gắn với khu vực nông thôn; - Quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương gắn với khu vực đô thị. Mỗi đơn vị hành chính cấp huyện đều được tổ chức chính quyền tương ứng. Chính quyền cấp huyện gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Cấp huyện là đơn vị hành chính lãnh thổ trung gian nằm giữa tỉnh và xã.
Chính quyền địa phương cấp huyện chịu sự quản lý nhà nước trực tiếp của chính quyền địa phương cấp tỉnh và trực tiếp quản lý nhà nước đối với chính quyền địa phương cấp xã. Mối quan hệ giữa chính quyền địa phương cấp tỉnh với chính quyền địa phương cấp huyện và giữa chính quyền địa phương cấp huyện với chính quyền địa phương cấp xã được xem xét dưới hai góc độ: - Quan hệ trong hoạt động quản lý nhà nước, - Quan hệ trong việc cung cấp dịch vụ (kể cả dịch vụ hành chính công). 9 Chính quyền địa phương cấp huyện ở Việt Nam bao gồm: - Hội đồng nhân dân thực hiện quản lý nhà nước mang tính chất lãnh thổ, gắn với ý chí, nguyện vọng của người dân trên địa bàn đơn vị hành chính lãnh thổ được phân công quản lý. - Ủy ban nhân dân thực hiện quản lý nhà nước theo địa phương các vấn đề của địa phương thông qua chấp hành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Như trên đã nêu, có 5 loại chính quyền địa phương cấp huyện, trong đó 4 loại gắn với đô thị; huyện gắn với quản lý vùng nông thôn. Chính quyền quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ và quyền hạn phân biệt với nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền huyện ở nông thôn. Hiến pháp 2013 kế thừa những thành tựu của các bản Hiến pháp trước đó, nhưng sự thay đổi những nội dung trong Hiến pháp 2013 thể hiện tư duy đổi mới về hoạt động của nhà nước Việt Nam, đặc biệt là chính quyền địa phương các cấp. Điều này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành một đơn vị hành chính trong thành phố trực thuộc trung ương, đó là “thành phố” thuộc “thành phố trực thuộc trung ương”.
Điều thay đổi lớn nhất khi xây dựng Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 dựa vào Hiến pháp 2013 chính là xác định rõ ràng, cụ thể cơ cấu tổ chức Ủy ban nhân dân cấp huyện và nhiệm vụ, quyền hạn của không chỉ đối với Ủy ban nhân dân cấp huyện mà còn đối với chính chức danh Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện. Đây là một thay đổi cơ bản nhằm xác định cụ thể nhiệm vụ và quyền hạn cũng như cơ cấu tổ chức bộ máy Ủy ban nhân dân tránh việc sau này các văn bản dưới luật đưa ra quy định riêng. 10 Cụ thể, chính quyền địa phương có 2 loại nhiệm vụ riêng biệt: - Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật tại địa phương; - Quyết định các vấn đề của địa phương theo luật định. Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 đã xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn.
Chi tiết về quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cũng như cơ cấu tổ chức bộ máy xem Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Khái niệm, vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân cấp huyện 1. Khái niệm Để tổ chức quyền lực Nhà nước tại địa phương, Nhà nước ta cũng như mọi quốc gia khác đều phân chia lãnh thổ ra các đơn vị hành chính và tổ chức cơ quan quản lý ở đó để bảo đảm mối liên hệ giữa Trung ương và địa phương, thực hiện chính sách của Nhà nước tại địa phương và quản lý địa phương. Tính quyền lực Nhà nước của Hội đồng nhân dân biểu hiện ở chỗ: nó thể hiện quyền làm chủ của nhân dân trên địa bàn lãnh thổ đồng thời thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn do cấp trên phân giao.
Quyết định của Hội đồng nhân dân có tính bắt buộc chung đối với các cơ quan, tổ chức và công dân ở địa phương. Hội đồng nhân dân với tính cách là cơ quan đại diện, cơ quan tập thể có phương thức hoạt động theo kỳ họp, ra nghị quyết về các vấn đề xây dựng địa phương và giám sát (giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước khác ở địa phương, giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân và giám sát việc tuân theo pháp luật ở địa phương). Còn Ủy ban nhân dân có nhiệm vụ tổ chức thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định, chỉ 11 thị của cấp trên và cùng với Thường trực Hội đồng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ tổ chức hoạt động của Hội đồng nhân dân (như chuẩn bị kỳ họp). Giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân không có sự tách biệt.
Với cách hiểu đó, Hội đồng nhân dân ngoài ý nghĩa là cơ quan đại diện bao gồm các đại biểu có thẩm quyền do dân bầu lên ở từng địa phương - cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương - còn bao hàm ý nghĩa là cơ quan quản lý Nhà nước tại địa phương, trong đó có cả Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các bộ phận hợp thành khác. Vị trí, vai trò Vị trí pháp lí của HĐND thể hiện ở 2 phương diện: Một là, cơ quan đại diện cho nhân dân ở địa phương HĐND là cơ quan duy nhất ở địa phương do cử tri địa phương bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng và bỏ phiếu kín (dân cử). Do đó, đại biểu HĐND là những người đại diện cho tất cả các tầng lớp nhân dân ở địa phương. Mục đích của HĐND là phục vụ cho lợi ích của nhân dân địa phương Hai là, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương: HĐND thay mặt cho nhân dân địa phương quyết định các vấn đề quan trọng ở địa phương.
Chức năng của Hội đồng nhân dân cấp huyện Chức năng của HĐND là một thuật ngữ khoa học, tuy nhiên thuật ngữ này được nhắc nhiều trong văn bản pháp luật cũng như trong đời sống nhân dân. Trong khoa học pháp lý và lý luận chung Nhà nước và pháp luật hiện nay thì chức năng thường được gọi là phương diện hoạt động chủ yếu của cơ quan nhà nước, nhưng đứng về phương diện xã hội học thì chức năng chính là vai trò xã hội của các cơ quan, tổ chức. Khi xuất hiện nhu cầu xã hội, đòi hỏi phải 12 có một tổ chức, một cơ quan đáp ứng nhu cầu xã hội đó, chức năng chính là vị trí, vai trò của tổ chức được hình thành ra để đáp ứng nhu cầu xã hội đó. HĐND cấp huyện được xác định là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân địa phương cấp huyện, do nhân dân huyện bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân trong huyện và các cơ quan nhà nước khác ở cấp trên quản lý.
Từ vị trí này HĐND cấp huyện có chức năng rất quan trọng là: “quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ đối với cả nước”. Theo quy định trên thì chức năng quyết định của HĐND cấp huyện có phạm vi tương đối rộng, bao quát tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội tại địa phương. Điều này khẳng định được vị trí, vai trò luôn gắn liền với chức năng của HĐND cấp huyện và một lần nữa khẳng định lại tầm quan trọng của HĐND trong chính quyền địa phương, đây cũng là cơ sở để HĐND thực hiện tốt nhiệm vụ của cấp trên giao phó và sự tin tưởng của cử tri địa phương. Mặt khác với chức năng quan trọng như vậy việc ban hành chính sách có tác động rất lớn tới đời sống, kinh tế - xã hội của địa phương nên khi quyết định thông qua nghị quyết phải đảm bảo được tính dân chủ, tính khả thi trong thực tế nhằm tránh tình trạng nghị quyết đã thông qua nhưng không thể triển khai thực hiện, làm mất đi vai trò quan trọng của HĐND.
Cùng với chức năng được phân tích ở trên, HĐND cấp huyện thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, giám sát việc thực hiện các Nghị quyết của mình ban hành, giám sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của 13 công dân ở địa phương trong phạm vị thẩm quyền được giao. Với quy định này đã đánh dấu bước phát triển mới về hoạt động giám sát của HĐND, nâng cao được vị thế vai trò của HĐND về mọi mặt. Hai chức năng này có mối quan hệ biện chứng tương trợ lẫn nhau, nên không thể coi trọng hay xem nhẹ hơn một chức năng nào, vì có thực hiện tốt chức năng giám sát thì sẽ tạo điều kiện cho HĐND tiến hành kiểm tra, đánh giá hoạt động của các cơ quan khác tại địa phương trong việc tuân thủ, chấp hành tốt Hiến pháp, Luật, văn bản của cơ quan nhà nước trung ương. Đồng thời giúp HĐND phát hiện ra những điểm bất hợp lý, thiếu tính thực tiễn của các nghị quyết đã ban hành nhằm kịp thời sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ cho phù hợp.
Việc thực hiện tốt chức năng quyết định sẽ tạo điều kiện cho việc giám sát được tốt hơn, qua đó tạo cơ sở để HĐND tiến hành bầu, bãi miễn, miễn nhiệm các chức danh trong HĐND, UBND, ban hành những nghị quyết có chất lượng tạo điều kiện cho HĐND thực hiện tốt vai trò của mình, đưa nền kinh tế - xã hội địa phương phát triển, xứng đáng với sự kỳ vọng, tin tưởng của nhân dân địa phương.